Serigraphy &Collage by La tòan Vinh
latoanvinh@gmail. cơm
Montréal CANADA
A TRADITION of POPULAR PRINT in VIỆT-NAM
La Toàn Vinh
In this planet, humans that lived in communities and established communications between them through all means, for instance by signs, voices or pictures have left a sort of legend in my memory. One cannot deny the human’s progress and its passions clearly proved through painting or literature.
In the Vietnamese literature, in the Hung Vuong dynasty, there was myth about a princess Tien Dung who accidentally, during her promenade, had seen a young men nude whose behavior was free of all sexual meaning. Although it was unintentionally happened, the impact would cause an unavoidable shock as such myth had created indirectly some notion of sexuality leading to an Exhibitionism tendancy
In the past classic Plastic Arts of the Vietnamese literature form the Le dynasty, in the popular print’s tradition, the sexuality notion was clearly expressed in a painting about a fight between a wife and a bare chest concubine. Such context has inspired a tendency in polygamy (Đa Thê).
Vietnam had in fact integrated in the main stream of the sexuality trend as proved by the erotic master piece “Red Pavilion Dreams”(Hồng Lầu Mộng) in the Minh dynasty regardless the rigid Confucius and Taoism moral principles.
The traditional painting Coconut picking had revealed the sex appeal in one’s daily activities. Such tendency albeit its minimal creation but still existing had nonetheless contributed to the development of the erotic art .
Today’s generation with the understanding of advanced technology should consider the sexual tendency that was inner in each human constitution as scientifically proved and as such trend had been present centuries ago in the Japanese, Indian or Chinese literature.
La Toàn Vinh
New York City 2007
Tranh Dân Gian Việt-Nam
Cũng như mọi dân tộc trên trái đất này, từ khi họ sống, sinh hoạt thành một cộng đồng , làm việc, trao đỗi với nhau bằng tất cã mọi phương tiện…từ khi con người biểu hiện, trao đổi với nhau bằng tín hiệu(Sign), hoặc cao hơn nữa bằng Ngôn Ngữ(Voices), hình ảnh(picture) v.v, những truyền thông đó(Communication), ít nhiều, đều để lại bao dấu ấn trong mãng tối huyền thoại(Légend). Rồi những sinh hoạt cơ bản của con người như: Dục Tính, thể hiện qua Tranh Tựợng, thơ ca,v.v, đã đánh gía những bước văn minh thực tế, không gì chối cãi được.
Trong văn hóa Việt Nam xa xưa, vào thời Hùng Vương, câu chuyện về chàng thanh niên Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung(1);( Chàng thanh niên Chử Đồng Tử, chẵng màng về Tình Dục, nhưng vô tình đã trưng bày thân thể trần truồng của mình, trước một người khác phái, xa lạ, cho dù; câu chuyện được thêu dệt như một điều ngẫu nhiên (happening), nhưng cú “shock” không thể nào tránh khỏi, huyền thoại đó hàm chứa một ý niệm Dục Tính, một cách gián tiếp, nó nói lên bao hình ảnh như một Exhibitionism (2).
Trong nghệ thuật tạo hình(Arts Plastique)cổ điển Việt nam, nhìn qua tranh Dân Gian(Tradition of Popular Prints) Đông Hồ,có chiều dầy lịch sử từ thời Lê , ta cãm nhận được, dục tính bày tỏ một cách minh bạch, nhưng tế nhị hơn , được lồng vào hình ảnh người Đánh Ghen, cô vợ bé ngực trần, phơi bày cã bộ phận nhạy cãm(Topless), nhìn chung trong bối cảnh đó, nó bộc lộ nhiều nhục dục về tính Đa Thê(Polygame)…
Song song, với những biểu hiện dâm thư thời Minh,như tác phẩm Rêve de Pavillon Rouge ( Hồng Lầu Mộng), ở thời điểm đó, Việt-Nam, cũng đã đi vào dòng chính (Main Stream)của nghệ thuật tạo hình nhạy cãm dục tính, đi ngoài khuôn khổ, nho giáo, cho dù đạo lý Khổng , Mạnh rất khắt khe đặt để…
Tác Phẩm dân gian Hứng Dừa , nó nói lên cái sức trẽ trong sinh hoạt , một cách rất gián tiếp ,đồng tình cho việc Hớ Hênh gợi cãm(sex appeal), nhìn chung trong một bối cảnh sáng tạo, tạo hình về “Érotic Art”, VN cho dù số lượng có ít, nhưng vẫn có mặt , để rồi tồn tại với tháng năm…
Chúng ta hôm nay, nên nhìn vào vấn đề thực, với cái nhìn đúng đắn, bao dung, thấu hiểu một cách khoa học, về bao cơ bản, nhaỵ cãm dục tính của con người trong tạo hình, một dòng hội nhập lớn đã có cách nay mấy trăm năm bên cạnh Nhật bản, Ấn Độ, Trung Hoa.v.v
Ghi Chú:
(1)Chu Dong tu was a young man from a very poor family. Both father and son had one unique bottom that one had to remain nude when the other one was out. One day, while the son was in, the royal parade was passed by the river, and the young man by his condition was obliged to hide himself under the sand. Fascinated by the beautiful landscape, the princess decided to take her bath in the river and discovered the young man nude just under her legs. The princess decided to marry then the man, as she saw what happened was faith.
(2)Exhibitionism ( from Latin exhibere : to present, to offer) means the unwelcome exposure of the sex organs to others, usually strangers, in order to obtain some sexual or emotional satisfaction. This behavior is quite often compulsive. Most exhibitionism are Males…
(1) Chử Đồng Tử một thanh niên nhà nghèo , hai cha con chỉ có duy nhất một cái khố, nhưng vì hiếu nên nhừơng cho cha dùng, ông để truồng và che khuất dưới dòng sông cho đở thẹn, một hôm có kiệu vua đi ngang, tất cả mọi người phãi lánh mặt, Chử Đồng tử, không có quần áo, nên nằm ẩn trên bờ, lấy cát che khuất thân thể mình, nhưng lúc ấy, vị công chúa Tiên Dung đi ngang qua, thấy cảnh đẹp nên đừng chân, căng lều để tắm mát, nhưng lạ thay, vị trí bồn tắm lại đúng vào chổ cũa Chử Đồng tử Ẩn thân, nên sau khi , dôi nước tắm, công chúa đã bắt gặp chàng thanh niên trần truồng dưới chân mình… Công chúa cho rằng đó là duyên kỳ ngộ, nên sánh duyên cùng chử đồng tử…
la tòan vinh
MẸ…
xếp ba viên gạch
Mẹ làm cái bếp.
cho bao bửa cơm đạm bạc trong ngày,
thời gian qua đi
không hề già cỗi…
mãi mãi còn đây bếp ấm tình thương.
Mẹ vẫn quanh đây
bên mái tranh nghèo
mái dột cột xiêu, một đời tần tão…
Mẹ như con nước, khi ròng khi lớn,
cho tuỗi thơ vui những buổi chiều hôm…
bàn tay vươn xa vẫy trong tiếng gọi,
con trẽ ra đi biền biệt bao ngày.
một khi trở lại, Mẹ không còn nữa
giọt nước mắt nào, vị mặn trên môi…
LTV
Mẹ…
( nhớ Vũ Kiện)
“Mẹ hoá đá nằm dài nghe sóng vỗ”
chiều lại về trên bến đỗ năm xưa
ngậm ngùi ru bao câu ca ly biệt
tuổi dâng đầy như sóng cả biển đông…
mẹ trở về hình bóng thuở quê xa
năm tháng dài cuộc đời như vô tận
đứa con xưa nay dong ruỗi trở về
nhìn biển trời nghe sóng vỗ vu vơ…
mẹ đứng thẳng như hải đăng soi rọi
bên bể đời nghiệt ngã với bóng đêm
khi trái tim thổn thức vạn nỗi buồn
cho nỗi niềm trôi dạt tận nơi đây
Cần giờ đây ,ôi sao thương nhớ quá
cho cuộc tình xa mãi những tháng năm..
LTV
QUÊ EM…NGÀY ĐÓ
khẽ bước trông qua chiều rạch sỏi,
nơi xa xôi bỗng ấm tình người…
em hỏi tôi”anh từ đâu đến
hoàng hôn xuống dần biết ở đâu???
nhiều năm đi xa thèm tiếng gọi
vách lá đơn sơ tron tấm lòng.
đã qua đi sao còn thao thức
quê diệu hiền hạt muối cắn đôi
nhấp nhô sóng biển như làn tóc
người Kiên giang chân chất tấm lòng…
đã qua rồi nhiều năm xa xứ
bao chân tình vun xới niềm tin
em vẫn đó bao lần chiều xuống,
mối tình xưa kể laị hoàng hôn…
Tôi bước đi trên đất Kiên Giang
qua bến cá ì xèo tiếng gọi
quê em đó bao lần thay đổi
nhưng tình yêu còn mãi nơi này…
LTV
Một ngày ở Paris...
Paris tôi, còn có một ngày đông
tháng giêng rơi đều bao giòng châu ngọc
cho giá buốt len vào tận câu thơ
khi hơi ấm tan ra từng âm điệu
Paris ơi có còn chăng ngày ấy
chặng đường xa vời vợi những dư âm
như nỗi buồn vây quanh trong yên lặng
giờ trong tôi bàng bạc những hư không…
Paris tôi còn lại một chút tình
trên trang giấy, vụn vỡ những ngày qua
khẻ bước đi trong dòng người vội vã
Paris đây còn lại những tàn phai
La Toàn Vinh-Paris –Charles de Gaulle/18/01/2015
MÙA XUÂN.
chắt chiu bao vạt nắng;
mùa xuân qua khung cửa .
xôn xao cành hoa trắng;
ươm đọng những hạt mưa…
tháng năm đầy hoa dại;
nở rộ bên sân nhà.
Bao nỗi niềm còn lại;
em giờ ở nơi xa…
mùa này trời thật xanh;
trong anh bao niềm nhớ.
nỗi buồn chợt đến nhanh
kết thành vầng thơ nhỏ…
La toàn Vinh
Bikini có từ bao giờ.
Danh từ BIKINI được chuyên dụng từ năm 1946, tạo cơn sốt về thời trang nóng bỏng lúc bấy giờ trong xã hội Tây phương, cùng lúc với kỷ nguyên thực nghiệm quả Bomb nguyên tử ở Nhật.
Bikini có thể hiểu như một y phục phụ nử chỉ vỏn vẹn với hai mãnh vãi, sau những trào lưu Monokini liền một mãnh, tuy nhiên y phục tương tự như thế này đã có một chiều dầy lịch sử khá lâu, ít nhất 300 năm trước Công Nguyên, do người Ai Cập cùng Hy Lạp, sau đến La Mã đã dùng nó trong các trò chơi thể thao …
Từ 1906 ở Đức đã có mầm móng về y phục mát mẽ rồi, hơn thế nữa nó còn hiện diện trong chương trình trên các sân khấu Pháp, sau đó Nhật bản, Bikini đã trãi qua một thế kỷ và vẫn không có gì thay đổi…
Trên các thị thành Bắc Mỹ cùng các đô thị lớn , nghành thiết kế thời trang được xem như một nghệ thuật thứ yếu (Art Mineur), không được ứng dụng trong chương trình Đại Học , có lẻ vì phụ thuộc quá nhiều vào các kỷ thuật khác như: công nghệ may mặc, người biểu diễn, sau cùng là thị hiếu thương mại…
Nhìn chung , từ 300 năm trước công nguyên, chiếc Bikini vẫn không có gì thay đổi, nó chẳng khác nào là một sự tái hồi, lặp đi lặp lại để làm mới cho người tiêu dùng hơn là sáng tạo.
Hình Trên :Cảnh tắm tiên trong một thành phố La Mã 3 thế kỷ trước CN...
Hình Dưới: Các thiếu nữ chơi thể thao cùng ăn vận Bikini
Vài kỷ niệm với thầy Hồ Văn Phòng(1930-2013)
Tôi biết ông vào những năm 1973 trong một buổi giới thiệu về Bích Chương Pháp tại trường QG Trang Trí Mỹ Thuật Gia Đinh..
Paris nơi chốn ấy thầy đã thụ huấn trọn vẹn bao thành tưụ về Đồ Họa Bích Chương .
Xuất thân trong một gia đình có mức thu nhập khá cao, giáo sư Hồ văn Phòng đã đến kinh đô ánh sáng trong giûa thập niên 1940 của thế kỷ trước.
Đã thu hoạch chương trình phổ thông trung học ở Paris, sau đến ông ghi tên vào học ở Học viện Mỹ Thuật Grande de Chaumiere để chọn cho mình một con đường hội họa và đi theo ông đến cuối cuộc đời... Cùng nơi chốn ấy ở Paris-nươ'c Pháp, GS Hồ văn Phòng đã gặp một đồng hương tâm đắc đó là họa sỹ Dương Văn Đen, về nước sau 8 năm học tập hai vị ấy lại có những lớp dạy tại trường Mỹ Thuật Gia Định.
Sau 1975 tôi lại được học tập với sự chỉ dạy của thầy ở năm học thứ hai cùng với các bạn Đặng thị Dương, Tô Hoài Nam, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Quốc Thạnh….
Sau này trương nâng câ'p gọi là ĐH Mỹ Thuật, luôn bao lần của năm 1978-79 thầy cùng chúng tôi đi thực tế tại Bình Thủy-Hậu Giang ,thầy Văn Đen vẫn cùng đi chung nhóm…
Thĩnh thoãng thầy hay kể về Paris làm tôi ước mơ như có thêm đôi cánh để tận thấy bao sinh hoạt ở nơi xa xăm ấy, lớn lên trên đất nước VN khi thực dân còn hà khắc hơn nhiều cùng một trang lứa đó ta không quên người học trò Trần Văn Ơn , vị này ông nhớ khá rành rẽ…
1980 rời Việt Nam để định cư ở Bắc Mỹ ,16 năm sau tôi trở về Sài Gòn, ông vẫn còn dạy vì ông yêu nơi chốn này; khi ông tâm sự: ” tôi chọn ở lại VN vì tôi yêu mến nó, ở Pháp em tôi là một dược sỹ có rất nhiều điều kiện để đoàn tụ, nhưng tôi đã từng ở bên ấy đến 8 năm, nên tôi chán lắm…”
Sinh ra bên giòng Tiền Giang, thân sinh ông là chủ một hãng nước mắn đồ sộ, như khi đứng bên này sông mà nhìn thấy cã một cơ ngơi bên kia bờ … nhưng cuộc đời ông sống thật bình dị chân thành , không hề khoe khoang hay phân biệt giàu nghèo…
Tôi găp lai thây nhiêù lâñ,
lần gặp cuối cùng năm 2012, chúng tôi cùng thầy có dịp ngồi lại hàn huyên tâm sự khi bao cái cò, cái mất vốn là vô thường và ông cũng chấp nhận như vậy…
LTV.
GIỚI THIỆU về NGHỆ THUẬT QUÃNG CÁO.(La publicité-Advertising)
La Toàn Vinh,
Tốt nghiệp truờng Université du Quebec à Montréal Canada
*Nghệ thuật quãng cáo đuợc biểu hiện như một kỷ thuật phô trương, trưng bày một vật thể nào đó hòng đập vào mắt nguời hiếu kỳ để đáp ứng nhu cầu cho yêu cầu TUYÊN TRUYỀN lẩn THUONG MẠI…(hình 1)
BíCH CHƯƠNG RAO BÁN
NÔ LÊ THÉ KY 18..
*Kỷ thuật quãng cáo trong chiều huớng tác dụng bằng thể chất để thúc đẩy quần chúng cùng chung tay vì một lợi ích nào đó, bao gồm các giá trị TÔN GIÁO, XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ…
*Nói như thế một hình ảnh được quãng bá trên quãng cáo , bản thân nó tạo nên một sức mạnh , sức thu hút tạo nhiều lợi ích cho sự phát triển cho nhu cầu con nguời , với mụch đích tuyên truyền (Propaganda) làm phuong tiện thúc đẩy các sự kiện đi theo chiều huớng phát triễn theo mong mõi…
*Để đi vào chiều sâu rộng trong kỷ thuật quãng cáo, nguời thiết kế phãi vận dụng trong tâm lý bằng sự biểu hiện bao hình ảnh cần thiết thực tế bằng ký tự, văn tự hoặc dấu hiệu cô đọng để đập vào mắt nguời tiêu dùng qua các chương trình phát thanh, phát hình, báo chí, để cuối cùng phương cách tái lập liên tục (répétition) nó làm nên bao sự kiện tạo ấn tuợng mạnh trong ý tuởng nguời tiêu dùng.
*Một hình ảnh tiếp thị phãi đáp ứng đuợc về gía trị đôc đáo, giá trị yêu cầu của thời đại trong một xã hội nhất định , kỷ thuật này thúc giục nguời tiêu dùng sẵn sàng tiêu thụ qua sự lựa chọn cùng với ý thích riêng tư , cùng lòng tin cậy.
*Căn cứ theo bao tiến trình phát triển của nghệ thuật quãng cáo, ta có thể nhận biết thêm qua các trang thông tin về chiến thắng của nguời Sumériens , mười điều răn, cùng bao ký tự của dân Ai Cập cổ đuợc xem như các văn bản đầu tiên về thông tin tuyên truyền, việc đó như một điều kiện xã hội mang nặng tính chất chính tri xã hội, kinh tế …những hình thức trên tạo nên một gía trị bao công cuộc tiến hóa về phương thức thông tin đại chúng(la communication de mass) như thế con nguời đã tạo nên một kỷ thuật thông tin để tạo sự dễ dàng cùng phong phú hóa cho đời sống văn minh của họ.
*Kể từ những dấu ấn sâu đậm đầu tiên đó khi con nguời đã biết sáng tạo hình ảnh cùng văn tự, các nền văn hóa thế giới đa xích lại gần nhau hơn, để trao đổi hội nhập qua các kinh nghiệm tiến hóa .
Trang 2
*Từ xa xua, con nguời đa trung thực vẽ nên tất cã các thông tin về đời sống thuờng nhật trên vách đá noi họ sinh sống , noi làm việc, điều đó nhu một cuốn nhật ký ghi chép bằng hình, tất cã những thứ ấy đều biểu hiện một hình thức thông tin mang tính kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm lịch sử…(Hình 2)
DÂÚ CHÂN THÚ IN TRÊN MẶT ĐÂ'T TẠO BAO THÔNG TIN,CHÚ Ý CHO NGƯỜI THỢ SĂN...
*Đi nguợc dòng thời gian, về một bích chuong thông tin đầu tiên đa tìm thấy trên giấy Cây sậy( papyrus) ở Thèbes, cùng với thời gian tính đã có tuổi thọ khoãng hơn 3.000 năm truớc công nguyên, thông tin trên yết thị này ghi chép rằng:” Sẽ tuởng thuởng cho những ai tìm thấy một nô lệ đã bỏ trốn…”
* Sau đến trong các giai đoạn khởi lên của nền văn minh HY-LA các chương trình quãng cáo tuyên truyền đã làm nỗi bật đồng thời rất có tác dụng đến đại chúng qua sự huởng ứng nhiệt liệt của họ, nhất là trong giai đoạn phát triễn về Thương Mại với các nuớc lân bang ở Hy Lạp làm nãy sinh một hình thức Quãng cáo Truyền Miệng ( La publicité Orale).
QUÃNG CÁO RAO VĂT
BĂNG MIÊNG
* Dòng quãng cáo truyền miệng hay gọi là “Crieur” đa đuợc phổ cập ở Hy Lạp , hình thức này nhu một nguời thông tín viên (Porte-Parole) trong lãnh vực Tôn Giáo, Chính Trị, luôn cã trong Quân Đội lẫn Thuong Mại, như trong giai đoạn của Homérique thông tin truyền miệng làm cầu nối giửa triều đinh và quần chúng, hình thức này vẫn còn trưng dụng đến ngày nay qua chức năng của các Thông Tín Viên văn phòng chính phủ v.v.
*Đến giai đoạn La Mã, các chương trình quãng cáo truyền miệng (Publicité orale) đã phát triển vuợt bực , không chỉ trong hành chánh mà trong Thuong Mại thường nhật…
QUÃNG CÁO Õ THÀNH PHÔ' POMPEI, LA MÃ
NĂM 79 SAU C. N.
*Đến giai đoạn sụp đổ của đế chế La Mã-César Ý và Châu Âu đi vào kiển soát bởi Giáo Hội, quảng cáo thương mại không khuếch trương , thay vào đó những thông tin về tôn giáo chiếm đại đa số cho đến hơn 10 thế kỷ sau đó , các dịch vụ quãng cáo thương mại tái hồi…
CHRONOLOGIE
Trước CN
3000 năm trươ'c CN,yết thị có thửơng cho ai tìm được 1 nô lệ bỏ trốn.
400 năm sau CN ở Hy Lạp Quảng cáo miệng thực hiện thương mại
100 Nhiều kêu gọi cho giác đấu ở La mả.
Sau Công nguyên
79 Thãm họa ở thành Pompéi lưu lại các dấu vết quảng cáo .
Năm 1220 ,Sau hơn 1.000 năm kiêm soát bơĩ tôn giáo, quãng cáo đã phuc hôì...
LTV 2005
VẾT SẸO THỜI GIAN
NGUYÊÑ THANH THU tai tư gia
Tháng 1/2020..
Đã hơn 40 năm chiến tranh chấm dứt, tất cã mọi thứ đã đi vào quá khứ.
tuy nhiên , có những thứ không thể nào phôi pha, mà ngược lại ,còn in đậm nét trên ký ức của con người Sàigòn…
Đó là biết bao công trình sáng tạo của các nghệ sỹ, sống miệt mài sáng tác trong bối cảnh chiến tranh như một bi kịch cuộc đời…
Tôi muốn nói đến cây đại thụ trong ngành điêu khắc SG, có thể nói đây là một trong những nhà sáng tạo điêu khắc có nhiều tác phẩm nhất nước…
Nguyễn Thanh Thu một cái tên không xa lạ với con người của đất Gia Định, ngoài nhiều công trình tượng đài nhân vật lịch sử chống ngoại xâm, ông còn lưu lại cả khối tượng cho hậu thế, tượng nhiều đến nỗi riêng ông không còn nhớ hết…
Một con người sinh ra và lớn lên trên đất Gia Định, nơi có ngôi trường Mỹ Thuật cổ kính trãi dài hơn 100 năm, đó chính là trường vẽ Gia Định …
Cộng theo cái cá tính sẵn có, ông đã tạo được thế đứng trong nghành điệu khắc đương đại miền nam,man mác một cái gì đó như trong trường phái nghệ thuật biểu hiện việt nam.
Cái tính đầy trực tính, đã tạo nên bao tình cãm dào dạt qua biểu hiện và chính trong con người của ông…
Sau 75 , ông đi học tập trong nhiều trại “re-éducation “ để thông hiểu đường lối, chính sách mà người đương thời gọi là “cách mạng” , ngày đó , như một cơn mưa đổ ập vào thân phận con người cùng như trong tác phẫm “Thương Tiếc” ở Nghĩa Trang Quân Đội VNCH.
Thực sự là vậy, người ta biết nhiều về ông bởi bức tượng này, nó như một thiên thần có cánh bay bỗng trên những nghĩa trang ở các nước trên thế giới…
photo La toàn Vinh 2008
Những giai thoại về ông khá vui, như KTS Lâm Công Quyền kể lại, khi ông vào dạy ở Võ Trường Toãn, lần vẽ tĩnh vật , ông để một cái Lu cho học sinh vẽ, nhưng vì trong lớp có những cậu học trò phá phách ,chọc ghẹo thầy…
Ông giận quá không biết phãi làm sao, bèn cung tay đấm bể cái Lu, làm cho các học trò một phen khiếp vía…
Đến khi làm tượng Thương Tiếc, ngày nào cũng có một Đại Tá công binh vào nhìn ngắm, ông buộc miệng hỏi”Mày vào đây làm gì”,
ông công bình đáp lại”tao vào để Quan Sát” , ông đuổi hắn ra và phôn cho TT Nguyễn văn Thiệu…
Sau cùng,NVT phôn cho ông đại tá công binh và nói” tao giao cho nó làm, có gì mà mày phãi quan sát!!!”
Đến những ngày trong trại cãi tạo ông mê vẽ chân dung “giặc lái”, người phi công cũng là bạn tù trong giờ học chính trị, cũng vì thế mà chịu hình phạt đứng ngoài trời nắng suốt 2 giờ.
Sau khi được Trả Quyền Công Dân dù ông là người VN, Nguyễn thanh Thu vượt qua trại tị nạn ở Thai Lan, khi đặt chân đến trại tị nạn, chưa kịp mừng… ông làm liền cái tượng Quan Thế Âm ,nay nơi ấy vẫn còn như một dấu tích bi kich, khổ nan v.v
Trở về VN trong những ngày già cỗi, ông gùi theo cái phát thảo Thương Tiếc mà ông đã mang theo khi vượt biện.
Rất tiếc!!!!thương tiếc đã không còn sau 1975…
LTV
Xoay quanh về LÊ T NHƠN
HUÊ'
TỰƠNG PHAN BỘị CHÂU…
Hòan tất năm 1975, đăt tại nhà lưu niệm PBC tạị bến Ngự…
Năm 1970, khi tôi vào học Mỹ Thuật ở Bình Dương thời anh LT Nhơn không còn ở đó…
Mãi cho đến năm 2007 trên một chuyến xe về Phan Rí-Mũi Né, trong lúc trò chuyện, anh Hồ Hữu Thủ có nói; “ nhà mày ở gần nhà thằng Nhơn, tao có đến đó chơi nhiếu lần…”
Tuy anh thường xuyên ở Sài Gòn và Huế, nhưng anh em họ hàng vẫn còn ở chổ cũ, tiếc vì những người trong gia tộc của anh không có liên quan đến chuyên môn, nên chúng tôi ít khi biết đến…
Cùng chuyến đi năm 2007 , khi tôi ra Bến Ngự thời cái tương Phan Bôi Châu vẫn còn ở đó, nhưng sau này nghe nói đã được an vị bên bờ sông Huơng…
Cách đây hơn 10 năm nhân một lần đến nhà người quen chơi ăn sáng, chi Lê Thanh Hương có nói, “Tôi và thằng Nhơn cùng là chi em, tôi là con người Bác của Nhơn , nó là con người chú ruột của tôi…”Cũng từ lúc ấy tôi biết thêm cha mẹ Lê thành Nhơn gốc gác ở Bến Cát, Chánh Lưu, vì chi Hương nhà ở Chánh Lưu có thân quen với người bác ruột của tôi…
Tôi buộc miệng nói” Mẹ của anh Nhơn là người Chàm…”
chi Hương không nói, từ đó tôi biết LTN có 2 dòng máu, Chàm và Quảng Đông, thực ra mà nói, ở Huyện Bết Cát –Lai Khê ngày xưa và nay vẫn còn một bộ phân nhỏ của những gia tộc Chàm Ba Ni, họ sống và chung chạ với nhiều người Việt nên rất khó phân biệt…
Gia đình chi Hương con ngườì bác anh Nhơn thì tương đói khá giả , chi có người em gái hành nghề nha sỹ ở Bình Dương , riêng chi thì ra hải ngoại từ năm 1972, vì theo chồng đi làm việc tại toà đại xứ VNCH tại Hàn Quốc..
Sau 1975, gia đình chi chuyễn sang quy chế tị nạn và định cư tại Montréal Canada…
Sau ngày gia đình anh Nhơn về Bình Dương , thuở thiếu thời lại học chung với nhà văn Võ Kỳ Điền, thực danh là Võ Tấn Phước con của nhà thuốc Đông Y Võ văn Chẩm ở chơ, thầy Phước nguyên giáo sư day môn Văn ở trường Trinh Hoài Đức Bình Dương…
Gia đình anh Nhơn thì nghèo mãi đến khi lấy vợ rồi mới khá hơn…
Theo lời HS Hà Mộng Hải nói “khi học điêu khắc, nó lấy vãi của bao bột mì làm quần mà mặc ???”
Tôi không biết anh ra hải ngoai năm nào, nhưng thường xyên có tác phẩm tham dự trong Festival de Huế…
Trong người Lê Thành Nhơn dù nghèo hay giàu ,an lành hay bệnh tật đều vẫn lac quan…khi anh lâm bệnh nặng ở Úc, nhà văn Đỗ quý Toàn từ Montréal có sang thăm, anh vẫn lạc quan với cuộc sống cho đến khi mất…
La Tòan Vinh
2/2022
HẬU GIANG QUÊ HƯƠNG TÔI
Ngày xưa trên bến Cần Thơ
Chợ Nỗi bồng bềnh câu thơ ngọt lim.
ngừơi xưa nơi đó khó tìm,
nhưng em đã ở trong tim tôi rồi.
hôm qua cầu khỉ bồi hồi,
bơi xuồng đưa đón một thời đã yêu.
Hậu Giang một thoáng diễm kiều,
xin cho ghi lai bao điều khó phai.
tâm tình trong buỗi sớm mai,
duyên em còn đó bao ngày đã qua…
Ô-Môn, Bình Thủy không xa
hồng như trái chin mặn mà duyên quê.
Quê Hương còn lại ngày về,
trao em khúc hát lời thề năm xưa.
hổng biết nói sao cho vừa,
bao năm còn đó như vừa mới đây…
Ninh Kiêù ơi cuộc tình nâỳ ,
tôi như mang nặng một lời Cám Ơn….
La Toàn Vinh
2022.
❤
CÁI TÌNH MIÊT THƯ'
quê mình gío mát trăng thanh,
sơ'm hôm cùng dãy ma xanh ngu't ngàn…
găp em trên bê'n đò ngang,
Thơí Lai, Cơ Đõ Hâu Giang đây rôì.
Nhơ' câu me hát trên môi,
ngày xưa đây đó qua rôì tuôi thơ
Trơì cao mây nươ'c như mơ,
ngươì xưa cãnh cũ bây gìơ còn không…
Ô Môn Bình Thủy trong lòng,
qua sông chài cá về đông chài chim
Cái Chanh, Cái Khê' khó tìm
găp em nhơ' mãi cái tình xa xăm..
thôi vê đư'ng ở ven sông
bơi xùông qua bê'n Cữu Long tron tình...
👉OLIVER JONES photo by La toan Vinh 👉DAVIS AMRAM in Montréal 👉MICHAEL BRECKER 👉STEVE WONDER . photo by La toan vinh 👉 DIANNA KRA...