Tuesday, May 17, 2022

LÊN MÃ PÍ LÈNG NHÌN DONG NHÓ QUÊ'

 LÊN ĐỈNH MÃ PÍ LÈNG NHÌN DÒNG NHO QUẾ…



gặp lại em trên đỉnh Mã Pí Lèng,

cung đường hạnh phúc và cô gái H-Mông.

gùi hoa trên vai bao trầm tư vách đá,

đại ngàn đã về trong tiếng gọi yêu thương…


gặp lại em đây bên bờ rào đá,

trên phiên chợ tình một thoáng mùa xuân.

trầm tích còn đây dãy đá tai mèo,

bao huyền thoại xưa , vọng về một lúc…


về bản làng  tìm lai một lá bùa,

mong ước mơ lên đất hoà mưa thuận,

khi gió lưng đèo lung lay hoa bắp,

làng ta vui bên chén rượu ngày mùa…


em H-Mông vang dậy một mối duyên,

khiến ta tìm hoài trong lòng vách đá.

trên cánh hoa ban có con chim lạ,

cất tiếng gọi mời bao khách lãng du…


lên Mã Pí Lèng nhìn dòng Nho Quế,

vẫn lặng lờ trôi bên cánh cửa trời

màu xanh ngọc bích lung linh cánh gió

bầu quê hương trở lai trong tôi…




LTV





MÔT CHIỀU TÂY BẮC..




hôm rời Cao Nguyên Đá

nhớ mãi cánh hoa Ban.

có phiên chợ Phong Lưu

xanh đỏ vàng rực rỡ…


quê em dãy núi dài

giòng sông sâu uốn khúc.

có mùa tam giác mạch,

chén rượu một đời say…


em cô gái H’Mông ,

bên ruộng ngô xa thẵm.

mênh mông  dãy sơn hà,

thái dương hồng đôi má…


nhớ một chiều Tây Bắc

lung lay đoá hoa hoa Ban,

em người ở Khâu Vai,

yêu đương mùa hội ngô…


quê tôi xa…xa lắm

thương quá Hà Giang ơi.

mong một ngày trở lại,

chung rượu thắm tình xưa…


ngồi trên mõm đá khô,

nhớ cuộc tinh xưa cũ.

chàng Ba và cô Út

tiếng sáo mèo vi vu…


âm vang của núi đồi,

điệu khèn xưa vang dội,

tiếng lòng như thổn thức,

bao nhịp điệu yêu đương…


LTV


...............................................


ĐẠI NGÀN RÉO GỌI...



về Tây Bắc bỗng thấy vui thêm,

vì hôm nay hẹn với Mây Trời…

khi đứng trước bức tranh sơn thuỷ

Nhü cãm thấy  có mình trong đó…


đóa hoa rừng cũng thấy vui lây,

vì hôm nay có người đồng cãm.

đã bao ngày khề khà bầu bạn,

chén rượu ngô khi cạn khi đầy…


Đại ngàn ơi vẫn mãi trong tim,

người lữ khách bước đi chầm chậm

ánh nắng chiều rơi vào bản vắng,

như nụ hôn của mẹ thiên nhiên…


đóa hoa trắng nở bên sườn núi,

gheo rắc vào đây những áng thơ…

đi qua chòm đá cao vun vút,

soi rọi vào tôi bao nhớ nhung…


rừng hoa trắng thì thầm trong gío

ví như anh từng nói với em.

Tây Bắc đã một thời khốn khó

cơn mưa qua trời lại sáng trong…


cô gái bản bên chòm núi lở

vẫn một lòng ở canh bên tôi.

cho một ngày nắm chặc tay nhau,

ta bước tới trong ngày toã sáng…


A Chẩy (LTV)


VẠT NẮNG YÊU THƯƠNG…

light of love



nhớ Họa sỹ Hà Dìu Chính.Hà Giang.


quảy túi trên vai Hành Phương Bắc,

bao con đường bỏ lại sau lưng…

chiều tây bắc rơi từng vạt nắng,

thoáng xa nhìn như một bức tranh…


Quản Bạ đi qua nhiều thương nhớ,

cặp núi đôi như nói điều gì.

chiếc nôi xưa cũ giờ trở lại…

dòng sửa cội nguồn Mẹ ta ơi.


qua Sà Thìn vào dinh Chính Đức,

dáng xưa nhà cổ bóng thời gian…

đứng nhìn mây trời trôi qua mắt,

thời gian ơi sao bỏ ta đi ???


ở Khâu Vai chưa hề khát nước,

bình rươu ngô giờ có bạn vàng

mai có về xuôi xin nhớ mãi,

ở nơi đâu cũng có bạn bè...


Cán Tỉ ơi, tình tôi ở đó,

còn em đây trong lúc xế chiều…

chén rượu tẻ chung chia bầu bạn,

tửu lượng giờ như ruộng bậc thang…


Lủng Cú mênh mông bao nỗi nhớ

của một thời tuổi trẽ đã qua.

đóa hoa rừng nở giửa mùa yêu,

trên đất nước ngàn năm còn lại…


mai có về xuôi xin ôm trọn,

bao Con Đường Hạnh Phúc qua đi

lên Mã Pì Lèng, về Thẫm Mả

có người em bé nhỏ vùng cao



La toàn Vinh(A Chẩy)…


MIỀN KÝ ỨC VÀ EM…


đi lên chòm cao xóm Cu-Vai,

thấy một thiên đường bị lãng quên.

về Yên Bái đến Mù Cang Chãy,

qua núi đồi cao mây trắng bay…


con chim lạ hát lời chào đón,

sắc hoa ban dưới ánh nắng hồng.

cô sơn nữ tóc cài hoa trắng,

gùi nước về buôn buổi sớm mai…


ôi! mùa thu ở tận phương xa,

đại ngàn vi vu bên giòng thác,

dòng chãy cuộc đời tuôn mạch sống,

cho vùng cao khởi sắc từng ngày…


con ong chắt chiu từng giọt mật,

vui sắc thắm cùng khóm lan rừng…

cánh hoa đào lung lay trước gío

trong mắt người con gái vùng cao…


hẹn gặp nhau mùa hoa Ban nở,

khắp núi rừng vang vọng lời ca.

chung rượu bắp thắm tình duyên mới,

Tây Bắc vào trong những ước mơ…


Người họa sỹ miền xuôi dừng lai,

trước núi rừng kỳ diệu thiên nhiên

tô sắc thắm vào trong khung vãi…

bao mối tình đất nước vùng cao…



La toàn Vinh(A Chẩy)














Sunday, March 27, 2022

4 HỌA SỸ

 



BỐN HỌA SĨ XUẤT GIA






  

 Trong suốt quá trình, hơn 2.000 năm phát triển Phật Giáo tại Á Châu, đạo giáo, đã gheo nhiều căn nguyên tốt, tạo nguồn cảm hứng cho văn nhân, thi sĩ , họa sĩ sáng tạo, với một luồng sinh khí, dạt dào.mãnh liệt, đã đóng góp cho nền văn hóa Á-Đông một thành tựu đáng kể.


Nếu như; nền Mỹ Thuật, tiêu biểu cho đỉnh cao, của sự phát triển đạo Phật, ở Thời Ðường, Tống, tạo cho nghệ thuật Trung-Hoa, có những sắc thái sâu xa, khiến cho các nước lân bang phải thán phục, đồng thời,  phải kể luôn sự thừa kế đó, như bao châu báu, tồn tại cho đến cuối thời kỳ nhà Thanh,  một loại hình mà các bật trí nhân, lẫn quãng đại quần chúng, đều trân trọng yêu mến, cùng làm những bộ môn tiêu khiển như : Cầm, Kỳ , Thi, Họa,  mang lại, một dấu ấn sâu đậm,trong nguồn văn hóa Á Ðông…


Riêng về lãnh vực hội hoạ, ở Trung Hoa phát triển rất sớm, những hình vẽ đơn giản nhất đã có từ xa xưa, do một người tên Phục Hy (Fu-Shi) tạo nên, qua những biểu hiện của Bát quái hình, 8 Biểu tượng này gồm: Ðất,Trời Gío ,Sấm sét,Lửa,Nước,Núi và Biển(Huit Trigrammes).Những hình thể này, đuợc phát triển mạnh mẽ thêm lên, vào thời nhà Chu (Thế kỷ XI đến thế kỷ III Trưóc công Nguyên)


Cũng vào thời kỳ cổ xưa, theo những di vật đào đuợc ở Thiểm Tây (Shaanxi), Cam Túc(Gansu), gồm những vật dùng bằng Gốm, thuộc nền văn hóa Yang Shao (4000-3000 Năm Trước TL) đã khẳng định, nghệ thuật tạo hình đã thoát thai, sau cùng, đến sáng tạo chữ viết tượng hình, đơn giản, làm tiêu biểu cho thời đại Shang ( Thương), theo phỏng định, của một vài học gỉa, đánh dấu, việc sáng tạo, tạo hình đã có một lịch sử sâu xa...


Cho đến cuối thời kỳ văn hóa phong kiến, điển hình nhất ,nghệ thuật thời nhà Thanh, hội họa Trung Hoa, đã phát triển với nhiều hình thái khác nhau, nhiều trường phái hội họa chuyên nghiệp (L’école d’art plastique), đã đuợc dựng lên, tinh thần này đã làm ảnh hưởng rất lớn, đến các nước lân cận như Việt Nam, Nhật, Ðại Hàn v.v


Những Họa sỹ,Thi sỹ lấy cảm hứng, cảm tác từ trong thiên nhiên, nguồn đạo lý Á-Ðông làm hành trang đời đời, ở đây đạo Phật vẫn làm một cái Duyên lớn, đối với nghệ sỹ sáng tạo.


Trong bao nhân duyên khởi lên, tôi lưu ý đến bốn họa sỹ, đồng thời, các vị này , cũng là những Tu Sĩ Phật Giáo, đã có, ít nhiều tác phẩm tạo hình, phản ánh tâm hồn Á đông , đồng thời Đạo gíao làm hơi thở, đã ăn sâu vào tim óc, Đạo gíao Á đông, đã làm cho nghệ thuật thăng hoa, bàng bạc một vầng mênh mông, bên cơn mộng trùng phùng.







Trung-Hoa, trong một bối cảnh lịch sử nhất định, bối cảnh, buổi giao thời; sau khi Minh triều chấm dứt, các nhân sĩ lui về ở ẩn, hay lẫn tránh vào rừng núi, sống thanh nhàn, số khác, có ý khôi phục lại Minh triều... Trong niềm trăn trở đó ,nghệ thuật cũng đã khơi dậy,  song hành với nhiều hình thái khác nhau...



Người họa Sỹ đầu tiên, tôi đề cập trên đây, là một tài năng lỗi lạc, trong số bốn họa sỹ xuất gia thời bấy giờ, có tên là HONG REN (pháp danh sau khi xuất gia),tục danh Jiang Fang…HONG REN(1610-1663), sinh quán tại Shexiang thuộc tỉnh AnHuy(An Hui),xuất thân từ một gia đình nghèo,mồ côi cha từ thuở nhỏ,nhưng nhờ bản tính cần cù hiếu học, nên đỗ đạt đến cử nhân triều Minh. Ðến khi nhà Minh bị soán ngôi, Hong Ren cùng thầy là Wang Waya, theo phong trào Phản Thanh Phục Minh ( Thiên-Địa-Hội), sau những lần thất bại, bèn lui về núi Wuyi xuất gia, quy y đầu Phât…

Thời gian sau đó, Hong Ren trở về làng củ của mình ở An Huy, trú trì trong một ngôi đền dưới chân núi Pi-yin, nơi thuộc dãy Hoàng Sơn, rất nỗi tiếng về thắng cảnh thiên nhiên, theo quan niệm phong thuỷ (Feng Shui) ,đây là đất thuận hòa,cũng từ đấy, ông đã vẽ nên những kiệt tác của mình, với bối cảnh của dãy Hoàng Sơn, trùng trùng, điệp điệp. Bên cạnh, bao rặng thông hùng vĩ, bao phủ bởi những áng mây mù, như cảnh đào tiên…Về sau, người đời dặt cho tên gọi là:” Họa phái Hoàng sơn”, ý muốn nói lên cái đẹp của thiên nhiên, cùng người họa sỹ thoát tục này…

Nhìn qua những biểu hiện, người ta có cảm tưởng, nghệ sỹ Hong Ren đã trãi tâm hồn mình, bao la cùng núi đồi trong một cơn mơ nào đó, làm tôi chợt liên tưởng đến hai họa sỹ trứ danh khác tên gọi Nizan cùng Wang Gongway thời nhà Nguyên, Nhưng ở đây, Hong Ren lại vĩ đại hơn, đã hòa những cảm xúc mình, vào bao áng mây mù. cùng những dãy thông sừng sững, cheo leo, cố vươn lên giữa tời cao vô tận…

Tinh thần này, gợi lại cái khí phách của một kẽ sỹ quy ẩn, vui thú điền viên, cùng cây cỏ sông hồ, như một hòa hợp, vào trong cõi thiên nhiên hùng vĩ…”Kiếp sau xin chớ làm ngưòi, Làm cây Thông đứng giửa trời mà reo”

 



HÔNG –REN( 1610-1663)

Phong Cảnh



Tiếp đến, phải kể đến KUN CAN (1612-1686), sinh quán tại Wuling, thuộc tỉnh Hồ-Nam (Hunam), có nhiều sở trường về Thi Phú và Họa từ thuở nhỏ… Sau khi Minh triều suy thoái, KunCan xuống tóc quy Y, tại Nam-kinh dù tuổi đã ngoài 40. Ngài đến tu học, tại Phật học viện toạ lạc trên vùng núi đồi New Shan, sau khi, đã kinh qua nhiều ngôi đền ở Nam –Kinh…

Tranh của Kuncan bộc lộ, một cách nhẹ nhàng thanh thoát, bởI sự rung động, hoà hợp cùng những nét cọ bay bướm,nhìn vào tận chiều sâu của cảnh vật , đượm vẻ thi ca nhẹ nhàng, gợi niềm cảm giác lâng lâng mơ hồ…khiến người xem không còn ý niệm về thời gian, cùng những nét chấm phá to lớn, ảnh hưởng nhiều trên họa phẩm của Wang Meng(Vương Miên),Shen Zhow.

Tác phẩm tiêu biểu nhất của ngài Kuncan có tên:”Trên Ðỉnh non cao” mô tả nơi an tịnh của ngài…có mây bao đầu núi,thác đỗ rì rào,thật là nơi bồng lai tiên cảnh…




KUN-CAN (1612-1686)




ZHU DA(1626-1705), sinh ra từ trong một gia đình hoàng tộc triều Minh, đã bao đời chiếm cứ miền Giang Tây(Jianxi); thân sinh của ông, lại nỗi tiếng về Thi,Họa, đương thời, sau khi nhà Minh bị đánh ngã, ông buồn chán, quên chuyện thế sự, bầu bạn cùng túi thơ, bầu rượu, lang thang trên khắp đường phố Giang Tây…Một hôm, ông vẽ trên cửa ra vào hai chữ “CÂM LẶNG”,rồi vui cảnh sông hồ mây gío, để ngâm thơ xướng họa, cho thoả chí tang bồng.

Năm 1648, ZHU DA xuất gia ,mười năm sau ông về an trú, tại tu viện thuộc phái Lão trang Qing Yumpu, cho đến cuối đời. Hầu hết trên những tác phẩm của Zhu da (còn một tên khác là Bada Shanren), mang nặng màu sắc thi ca, bộc lộ tinh thần của một kẻ sỹ ,tuyệt vọng, buồn cho Quốc Gia suy vong; hầu như trong những sáng tác của ông đều man mác bao niềm thao thức đó…Ðáng kể nhất là tác phẩm biểu hiện một con chim đang đứng với một chân trên mõn đá cô đơn, mắt nghiêng lên trời cao như muốn bày tỏ chân tình của mình…Thi tứ của Zhu Da, thời buồn man mác, nét cọ quẩn quanh, bối rối, như bao dày dò trong tâm thức,chịu ảnh hưởng nhiều đến kỹ thuật của Xu Wei...


ZHU-DA

Mực




Cuối cùng là YUAN –JI (1641-1707),người họa sỹ, tu sỹ này, cũng là một nhân vật có quan hệ trong hoàng tộc triều Minh, thất lạc gia đình, trong những ngày ly loạn ở Quế-lâm(Guilin).Thuở thiếu thời, đi và sống thật nhiều nơi, trên mọi lảnh thổ khác nhau, khi ở Hồ Bắc,lúc xuôi dòng Giang Tây, cũng chính vì thế, nên trong các họa phẩm của ông, đều là những phong cảnh sông hồ ở Giang-Châu, Quế Lâm…

Một trong 4 họa sỹ đại tài, của trường phái phía Bắc, tranh của ông nhiều tính thơ mộng, trữ tình bởi thiên nhiên hùng vĩ, ông có thể được gọi, như một nghệ sỹ, yêu thiên nhiên một cách nồng nàn nhất.

Tác phẩm”Hoa Cúc và Ðá Tảng”làm một đển hình, với bút pháp tài tình, uyển chuyển, đã làm tách hẳn với những ảnh hưởng của thời Nguyên, Minh, để tạo cho mình một tiếng nói,một thế giới riêng biệt.Cũng nên nói thêm ,những biểu hiện hội họa như: Tứ Thời, Tứ cảnh, Xuân ,Hạ,Thu, Ðông, Mai, Lan Cúc Trúc…đều khởi sinh trong giai đoạn này ,cùng làm ảnh hưởng ít nhiều, đến những biểu hiện trang trí,trong các tác phẩm hội họa cổ ở Việt-Nam…

Nhìn một cách chung nhất, 4 họa sĩ xuất gia Thanh triều, đều là những sĩ phu yêu nước, với chung một niềm hoài cổ mênh mang, Những trí thức của Minh Triều, đang thương tiếc, cho bao gía trị đã mất,mỗi một ngừời tìm đến một nơi chốn bình an, mỗi một người, làm những sáng tạo qúy báu, những tinh hoa không thể nào so sánh nỗi,chẳng khác nào như 4 họa sỹ họ Vương ở Bắc Kinh, đã làm rạng rỡ một miền Dương-Châu, làm nền tảng cho cho sự phát triển của trường phái Dương Châu sau này….




JUAN- JI


Kích Thứơc , Sưu Tập Không rõ

 






Friday, February 25, 2022

THE HEART


 Serigraphy &Collage by La tòan Vinh

latoanvinh@gmail. cơm

Montréal CANADA 


Saturday, February 19, 2022

Tranh dân gian

   A TRADITION of POPULAR PRINT in VIỆT-NAM

La Toàn Vinh






In this planet, humans that lived in communities and established communications between them through all means, for instance by signs, voices or pictures have left a sort of legend in my memory. One cannot deny the human’s progress and its passions clearly proved through painting or literature.


In the Vietnamese literature, in the Hung Vuong dynasty, there was myth about a princess Tien Dung who accidentally, during her promenade, had seen a young men nude whose behavior was free of all sexual meaning. Although it was unintentionally happened, the impact would cause an unavoidable shock as such myth had created indirectly some notion of sexuality leading to an Exhibitionism tendancy

In the past classic Plastic Arts of the Vietnamese literature form the Le dynasty, in the popular print’s tradition, the sexuality notion was clearly expressed in a painting about a fight between a wife and a bare chest concubine. Such context has inspired a tendency in polygamy (Đa Thê).


Vietnam had in fact integrated in the main stream of the sexuality trend as proved by the erotic master piece “Red Pavilion Dreams”(Hồng Lầu Mộng) in the Minh dynasty regardless the rigid Confucius and Taoism moral principles.

The traditional painting Coconut picking had revealed the sex appeal in one’s daily activities. Such tendency albeit its minimal creation but still existing had nonetheless contributed to the development of the erotic art .


Today’s generation with the understanding of advanced technology should consider the sexual tendency that was inner in each human constitution as scientifically proved and as such trend had been present centuries ago in the Japanese, Indian or Chinese literature.



La Toàn Vinh

New York City 2007













Tranh Dân Gian Việt-Nam


Cũng như mọi dân tộc trên trái đất này, từ khi họ sống, sinh hoạt thành một cộng đồng , làm việc, trao đỗi với nhau bằng tất cã mọi phương tiện…từ khi con người biểu hiện, trao đổi với nhau bằng tín hiệu(Sign), hoặc cao hơn nữa bằng Ngôn Ngữ(Voices), hình ảnh(picture) v.v, những truyền thông đó(Communication), ít nhiều, đều để lại bao dấu ấn trong mãng tối huyền thoại(Légend). Rồi những sinh hoạt cơ bản của con người như: Dục Tính, thể hiện qua Tranh Tựợng, thơ ca,v.v, đã đánh gía những bước văn minh thực tế, không gì chối cãi được.


Trong văn hóa Việt Nam xa xưa, vào thời Hùng Vương, câu chuyện về chàng thanh niên Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung(1);( Chàng thanh niên Chử Đồng Tử, chẵng màng về Tình Dục, nhưng vô tình đã trưng bày thân thể trần truồng của mình, trước một người khác phái, xa lạ, cho dù; câu chuyện được thêu dệt như một điều ngẫu nhiên (happening), nhưng cú “shock” không thể nào tránh khỏi, huyền thoại đó hàm chứa một ý niệm Dục Tính, một cách gián tiếp, nó nói lên bao hình ảnh như một Exhibitionism (2).


Trong nghệ thuật tạo hình(Arts Plastique)cổ điển Việt nam, nhìn qua tranh Dân Gian(Tradition of Popular Prints) Đông Hồ,có chiều dầy lịch sử từ thời Lê , ta cãm nhận được, dục tính bày tỏ một cách minh bạch, nhưng tế nhị hơn , được lồng vào hình ảnh người Đánh Ghen, cô vợ bé ngực trần, phơi bày cã bộ phận nhạy cãm(Topless), nhìn chung trong bối cảnh đó, nó bộc lộ nhiều nhục dục về tính Đa Thê(Polygame)…


Song song, với những biểu hiện dâm thư thời Minh,như tác phẩm Rêve de Pavillon Rouge ( Hồng Lầu Mộng), ở thời điểm đó, Việt-Nam, cũng đã đi vào dòng chính (Main Stream)của nghệ thuật tạo hình nhạy cãm dục tính, đi ngoài khuôn khổ, nho giáo, cho dù đạo lý Khổng , Mạnh rất khắt khe đặt để…

Tác Phẩm dân gian Hứng Dừa , nó nói lên cái sức trẽ trong sinh hoạt , một cách rất gián tiếp ,đồng tình cho việc Hớ Hênh gợi cãm(sex appeal), nhìn chung trong một bối cảnh sáng tạo, tạo hình về “Érotic Art”, VN cho dù số lượng có ít, nhưng vẫn có mặt , để rồi tồn tại với tháng năm…


Chúng ta hôm nay, nên nhìn vào vấn đề thực, với cái nhìn đúng đắn, bao dung, thấu hiểu một cách khoa học, về bao cơ bản, nhaỵ cãm dục tính của con người trong tạo hình, một dòng hội nhập lớn đã có cách nay mấy trăm năm bên cạnh Nhật bản, Ấn Độ, Trung Hoa.v.v











Ghi Chú:



(1)Chu Dong tu was a young man from a very poor family. Both father and son had one unique bottom that one had to remain nude when the other one was out. One day, while the son was in, the royal parade was passed by the river, and the young man by his condition was obliged to hide himself under the sand. Fascinated by the beautiful landscape, the princess decided to take her bath in the river and discovered the young man nude just under her legs. The princess decided to marry then the man, as she saw what happened was faith.


(2)Exhibitionism ( from Latin exhibere : to present, to offer) means the unwelcome exposure of the sex organs to others, usually strangers, in order to obtain some sexual or emotional satisfaction. This behavior is quite often compulsive. Most exhibitionism are Males…




(1) Chử Đồng Tử một thanh niên nhà nghèo , hai cha con chỉ có duy nhất một cái khố, nhưng vì hiếu nên nhừơng cho cha dùng, ông để truồng và che khuất dưới dòng sông cho đở thẹn, một hôm có kiệu vua đi ngang, tất cả mọi người phãi lánh mặt, Chử Đồng tử, không có quần áo, nên nằm ẩn trên bờ, lấy cát che khuất thân thể mình, nhưng lúc ấy, vị công chúa Tiên Dung đi ngang qua, thấy cảnh đẹp nên đừng chân, căng lều để tắm mát, nhưng lạ thay, vị trí bồn tắm lại đúng vào chổ cũa Chử Đồng tử Ẩn thân, nên sau khi , dôi nước tắm, công chúa đã bắt gặp chàng thanh niên trần truồng dưới chân mình… Công chúa cho rằng đó là duyên kỳ ngộ, nên sánh duyên cùng chử đồng tử…



la tòan vinh



THƠ LTV

                MẸ…


xếp ba viên gạch

                         Mẹ làm cái bếp.

cho bao bửa cơm đạm bạc trong ngày,

thời gian qua đi

                      không hề già cỗi…

mãi mãi còn đây bếp ấm tình thương.


Mẹ vẫn quanh đây 

                        bên mái tranh nghèo

mái dột cột xiêu, một đời tần tão…


Mẹ như con nước, khi ròng khi lớn,

cho tuỗi thơ vui những buổi chiều hôm…


bàn tay vươn xa vẫy trong tiếng gọi,

con trẽ ra đi biền biệt bao ngày.

một khi trở lại, Mẹ không còn nữa

giọt nước mắt nào, vị mặn trên môi…



LTV








    Mẹ…

( nhớ Vũ Kiện)


“Mẹ hoá đá nằm dài nghe sóng vỗ”

chiều lại về trên bến đỗ năm xưa

ngậm ngùi ru bao câu ca ly biệt

tuổi dâng đầy như sóng cả biển đông…


mẹ trở về hình bóng thuở quê xa

năm tháng dài cuộc đời như vô tận

đứa con xưa nay dong ruỗi trở về

nhìn biển trời nghe sóng vỗ vu vơ…


mẹ đứng thẳng như hải đăng soi rọi

bên bể đời nghiệt ngã với  bóng đêm

khi trái tim thổn thức vạn nỗi buồn

cho nỗi niềm trôi dạt tận nơi đây



Cần giờ đây ,ôi sao thương nhớ quá

cho cuộc tình xa mãi những tháng năm..


LTV








QUÊ EM…NGÀY ĐÓ 


khẽ bước trông  qua chiều rạch sỏi,

nơi xa xôi bỗng ấm tình người…

em hỏi tôi”anh từ đâu đến

hoàng hôn xuống dần biết ở đâu???

nhiều năm đi xa thèm tiếng gọi

vách lá đơn sơ tron tấm lòng.


đã qua đi sao còn thao thức

quê diệu hiền hạt muối cắn đôi

nhấp nhô sóng biển như làn tóc

người Kiên giang chân chất tấm lòng…


đã qua rồi nhiều năm xa xứ

bao chân tình vun xới niềm tin

em vẫn đó bao lần chiều xuống,

mối tình xưa kể  laị hoàng hôn…


Tôi bước đi trên đất Kiên Giang

qua bến cá   ì xèo tiếng gọi

quê em đó bao lần thay đổi

nhưng tình yêu còn mãi nơi này…


LTV




Miệt vườn xứ Thủ...

Qua chợ Búng nhớ thời theo chân mẹ
Lái Thiêu đây xinh xắn những chiếc nem
khoãng trời xanh vi vu trong tầm mắt
cánh diều xưa trở lại tuổi thơ tôi…

dưới bóng cây xanh, bên hàng trái chín
buồng cao gìa trĩu nặng khúc suy tư
Thuận An đây còn mãi tháng ngày dài
bóng người con gái ,đang thời hoa mộng


Bình Nhâm ơi xanh thẵm những lá trầu
cho duyên thắm se tơ mùa trái ngọt…
đây sông nước miệt vườn mùa tao ngộ
quấn quít bên nhau như bóng với hình

đầu năm mới xuyến xao như mở hội
bao đoá xinh còn đọng hạt sương mai
bên Hội Khánh ngân nga giòng Bát nhã
đêm hôm qua, sân trước một cành mai (*)

con đò xưa có ngang qua chợ Thủ
đưa tôi về bao giọng nói dịu êm
tan chợ rồi cọc cạch tiếng xe qua 
Ôi thương quá một chiều qua xứ Thủ



(*) Mãn Giác Thiền Sư
LT Vinh 2012


Phố Lý thường Kiệt

về đồng bằng chợt thèm cái nắng
nhớ màu đen giọt đắng cà phê
nhớ rừng cây ngút ngàn ánh mắt
hoa cà phê nở trắng bầu trời…

hôm về đây Ban Mê một thuở
gập ghềnh bao con giốc xuống lên
nơi ngã sáu dừng chân hội tụ
ký ức xưa vọng lại một chiều…

đêm buông xuống tối đèn chậm lại
gió cao nguyên lồng lộng trời cao
cô thôn nữ đi trong buông xóm
trong lặng yên cùng với núi rừng…

nhớ hôm ngồi bên vĩa hè xưa
ly cà phê đặc vị thơm lừng
xin cám ơn đôi mắt phố phường 
lung linh mãi trong tôi nỗi nhớ

Ban mê đó tôi đi-lại đến
biết bao điều sẽ nói trong tôi
đôi bàn tay khép lại một lần
bên cái lạnh núi đồi muôn thưở

LTV

   

Một ngày ở Paris...



Paris tôi, còn có một ngày đông

tháng giêng rơi đều bao giòng châu ngọc

cho giá buốt len vào tận câu thơ

khi hơi ấm tan ra từng âm điệu


Paris ơi có còn chăng ngày ấy

chặng đường xa vời vợi những dư âm

như nỗi buồn vây quanh trong yên lặng

giờ trong tôi bàng bạc những hư không…


Paris tôi còn lại một chút tình

trên trang giấy, vụn vỡ những ngày qua

khẻ bước đi trong dòng người vội vã

Paris đây còn lại những tàn phai




La Toàn Vinh-Paris –Charles de Gaulle/18/01/2015









MÙA XUÂN.



chắt chiu bao vạt nắng;

mùa  xuân qua khung cửa .

xôn xao cành hoa trắng;

ươm đọng những hạt mưa…


tháng năm đầy hoa dại;

nở rộ bên sân nhà.

Bao nỗi niềm còn lại;

em giờ ở nơi xa…


mùa này trời thật xanh;

trong anh bao niềm nhớ.

nỗi buồn  chợt đến nhanh

kết  thành vầng thơ nhỏ…




        


La toàn Vinh





















BIKINI

 Bikini có từ bao giờ.


Danh từ BIKINI được chuyên dụng từ năm 1946, tạo cơn sốt về thời trang nóng bỏng lúc bấy giờ trong xã hội Tây phương, cùng lúc với kỷ nguyên thực nghiệm quả Bomb nguyên tử ở Nhật.

Bikini có thể hiểu như một y phục phụ nử chỉ vỏn vẹn với hai mãnh vãi, sau những trào lưu Monokini liền một mãnh, tuy nhiên y phục tương tự như thế này đã có một chiều dầy lịch sử khá lâu, ít nhất 300 năm trước Công Nguyên, do người Ai Cập cùng Hy Lạp, sau đến La Mã đã dùng nó trong các trò chơi thể thao …

Từ 1906 ở Đức đã có mầm móng về y phục mát mẽ rồi, hơn thế nữa nó còn hiện diện trong chương trình trên các sân khấu Pháp, sau đó Nhật bản, Bikini đã trãi qua một thế kỷ và vẫn không có gì thay đổi…

Trên các thị thành Bắc Mỹ cùng các đô thị lớn , nghành thiết kế thời trang được xem như một nghệ thuật thứ yếu (Art Mineur), không được ứng dụng trong chương trình Đại Học , có lẻ vì phụ thuộc quá nhiều vào các kỷ thuật  khác như: công nghệ may mặc, người biểu diễn, sau cùng là thị hiếu thương mại…

Nhìn chung , từ 300 năm trước công nguyên, chiếc Bikini vẫn không có gì thay đổi, nó chẳng khác nào là một sự tái hồi, lặp đi lặp lại để làm mới cho người tiêu dùng hơn là sáng tạo.


Hình Trên :Cảnh tắm tiên trong một thành phố La Mã 3 thế kỷ trước CN...







Hình Dưới: Các thiếu nữ chơi thể thao cùng ăn vận Bikini



COMICCON MONTREAL

 🌷 🌷 🌷 🌷 🌷 🌷 🌷