BỐN HỌA SĨ XUẤT GIA
Trong suốt quá trình, hơn 2.000 năm phát triển Phật Giáo tại Á Châu, đạo giáo, đã gheo nhiều căn nguyên tốt, tạo nguồn cảm hứng cho văn nhân, thi sĩ , họa sĩ sáng tạo, với một luồng sinh khí, dạt dào.mãnh liệt, đã đóng góp cho nền văn hóa Á-Đông một thành tựu đáng kể.
Nếu như; nền Mỹ Thuật, tiêu biểu cho đỉnh cao, của sự phát triển đạo Phật, ở Thời Ðường, Tống, tạo cho nghệ thuật Trung-Hoa, có những sắc thái sâu xa, khiến cho các nước lân bang phải thán phục, đồng thời, phải kể luôn sự thừa kế đó, như bao châu báu, tồn tại cho đến cuối thời kỳ nhà Thanh, một loại hình mà các bật trí nhân, lẫn quãng đại quần chúng, đều trân trọng yêu mến, cùng làm những bộ môn tiêu khiển như : Cầm, Kỳ , Thi, Họa, mang lại, một dấu ấn sâu đậm,trong nguồn văn hóa Á Ðông…
Riêng về lãnh vực hội hoạ, ở Trung Hoa phát triển rất sớm, những hình vẽ đơn giản nhất đã có từ xa xưa, do một người tên Phục Hy (Fu-Shi) tạo nên, qua những biểu hiện của Bát quái hình, 8 Biểu tượng này gồm: Ðất,Trời Gío ,Sấm sét,Lửa,Nước,Núi và Biển(Huit Trigrammes).Những hình thể này, đuợc phát triển mạnh mẽ thêm lên, vào thời nhà Chu (Thế kỷ XI đến thế kỷ III Trưóc công Nguyên)
Cũng vào thời kỳ cổ xưa, theo những di vật đào đuợc ở Thiểm Tây (Shaanxi), Cam Túc(Gansu), gồm những vật dùng bằng Gốm, thuộc nền văn hóa Yang Shao (4000-3000 Năm Trước TL) đã khẳng định, nghệ thuật tạo hình đã thoát thai, sau cùng, đến sáng tạo chữ viết tượng hình, đơn giản, làm tiêu biểu cho thời đại Shang ( Thương), theo phỏng định, của một vài học gỉa, đánh dấu, việc sáng tạo, tạo hình đã có một lịch sử sâu xa...
Cho đến cuối thời kỳ văn hóa phong kiến, điển hình nhất ,nghệ thuật thời nhà Thanh, hội họa Trung Hoa, đã phát triển với nhiều hình thái khác nhau, nhiều trường phái hội họa chuyên nghiệp (L’école d’art plastique), đã đuợc dựng lên, tinh thần này đã làm ảnh hưởng rất lớn, đến các nước lân cận như Việt Nam, Nhật, Ðại Hàn v.v
Những Họa sỹ,Thi sỹ lấy cảm hứng, cảm tác từ trong thiên nhiên, nguồn đạo lý Á-Ðông làm hành trang đời đời, ở đây đạo Phật vẫn làm một cái Duyên lớn, đối với nghệ sỹ sáng tạo.
Trong bao nhân duyên khởi lên, tôi lưu ý đến bốn họa sỹ, đồng thời, các vị này , cũng là những Tu Sĩ Phật Giáo, đã có, ít nhiều tác phẩm tạo hình, phản ánh tâm hồn Á đông , đồng thời Đạo gíao làm hơi thở, đã ăn sâu vào tim óc, Đạo gíao Á đông, đã làm cho nghệ thuật thăng hoa, bàng bạc một vầng mênh mông, bên cơn mộng trùng phùng.
Trung-Hoa, trong một bối cảnh lịch sử nhất định, bối cảnh, buổi giao thời; sau khi Minh triều chấm dứt, các nhân sĩ lui về ở ẩn, hay lẫn tránh vào rừng núi, sống thanh nhàn, số khác, có ý khôi phục lại Minh triều... Trong niềm trăn trở đó ,nghệ thuật cũng đã khơi dậy, song hành với nhiều hình thái khác nhau...
Người họa Sỹ đầu tiên, tôi đề cập trên đây, là một tài năng lỗi lạc, trong số bốn họa sỹ xuất gia thời bấy giờ, có tên là HONG REN (pháp danh sau khi xuất gia),tục danh Jiang Fang…HONG REN(1610-1663), sinh quán tại Shexiang thuộc tỉnh AnHuy(An Hui),xuất thân từ một gia đình nghèo,mồ côi cha từ thuở nhỏ,nhưng nhờ bản tính cần cù hiếu học, nên đỗ đạt đến cử nhân triều Minh. Ðến khi nhà Minh bị soán ngôi, Hong Ren cùng thầy là Wang Waya, theo phong trào Phản Thanh Phục Minh ( Thiên-Địa-Hội), sau những lần thất bại, bèn lui về núi Wuyi xuất gia, quy y đầu Phât…
Thời gian sau đó, Hong Ren trở về làng củ của mình ở An Huy, trú trì trong một ngôi đền dưới chân núi Pi-yin, nơi thuộc dãy Hoàng Sơn, rất nỗi tiếng về thắng cảnh thiên nhiên, theo quan niệm phong thuỷ (Feng Shui) ,đây là đất thuận hòa,cũng từ đấy, ông đã vẽ nên những kiệt tác của mình, với bối cảnh của dãy Hoàng Sơn, trùng trùng, điệp điệp. Bên cạnh, bao rặng thông hùng vĩ, bao phủ bởi những áng mây mù, như cảnh đào tiên…Về sau, người đời dặt cho tên gọi là:” Họa phái Hoàng sơn”, ý muốn nói lên cái đẹp của thiên nhiên, cùng người họa sỹ thoát tục này…
Nhìn qua những biểu hiện, người ta có cảm tưởng, nghệ sỹ Hong Ren đã trãi tâm hồn mình, bao la cùng núi đồi trong một cơn mơ nào đó, làm tôi chợt liên tưởng đến hai họa sỹ trứ danh khác tên gọi Nizan cùng Wang Gongway thời nhà Nguyên, Nhưng ở đây, Hong Ren lại vĩ đại hơn, đã hòa những cảm xúc mình, vào bao áng mây mù. cùng những dãy thông sừng sững, cheo leo, cố vươn lên giữa tời cao vô tận…
Tinh thần này, gợi lại cái khí phách của một kẽ sỹ quy ẩn, vui thú điền viên, cùng cây cỏ sông hồ, như một hòa hợp, vào trong cõi thiên nhiên hùng vĩ…”Kiếp sau xin chớ làm ngưòi, Làm cây Thông đứng giửa trời mà reo”
HÔNG –REN( 1610-1663)
Phong Cảnh
Tiếp đến, phải kể đến KUN CAN (1612-1686), sinh quán tại Wuling, thuộc tỉnh Hồ-Nam (Hunam), có nhiều sở trường về Thi Phú và Họa từ thuở nhỏ… Sau khi Minh triều suy thoái, KunCan xuống tóc quy Y, tại Nam-kinh dù tuổi đã ngoài 40. Ngài đến tu học, tại Phật học viện toạ lạc trên vùng núi đồi New Shan, sau khi, đã kinh qua nhiều ngôi đền ở Nam –Kinh…
Tranh của Kuncan bộc lộ, một cách nhẹ nhàng thanh thoát, bởI sự rung động, hoà hợp cùng những nét cọ bay bướm,nhìn vào tận chiều sâu của cảnh vật , đượm vẻ thi ca nhẹ nhàng, gợi niềm cảm giác lâng lâng mơ hồ…khiến người xem không còn ý niệm về thời gian, cùng những nét chấm phá to lớn, ảnh hưởng nhiều trên họa phẩm của Wang Meng(Vương Miên),Shen Zhow.
Tác phẩm tiêu biểu nhất của ngài Kuncan có tên:”Trên Ðỉnh non cao” mô tả nơi an tịnh của ngài…có mây bao đầu núi,thác đỗ rì rào,thật là nơi bồng lai tiên cảnh…
KUN-CAN (1612-1686)
ZHU DA(1626-1705), sinh ra từ trong một gia đình hoàng tộc triều Minh, đã bao đời chiếm cứ miền Giang Tây(Jianxi); thân sinh của ông, lại nỗi tiếng về Thi,Họa, đương thời, sau khi nhà Minh bị đánh ngã, ông buồn chán, quên chuyện thế sự, bầu bạn cùng túi thơ, bầu rượu, lang thang trên khắp đường phố Giang Tây…Một hôm, ông vẽ trên cửa ra vào hai chữ “CÂM LẶNG”,rồi vui cảnh sông hồ mây gío, để ngâm thơ xướng họa, cho thoả chí tang bồng.
Năm 1648, ZHU DA xuất gia ,mười năm sau ông về an trú, tại tu viện thuộc phái Lão trang Qing Yumpu, cho đến cuối đời. Hầu hết trên những tác phẩm của Zhu da (còn một tên khác là Bada Shanren), mang nặng màu sắc thi ca, bộc lộ tinh thần của một kẻ sỹ ,tuyệt vọng, buồn cho Quốc Gia suy vong; hầu như trong những sáng tác của ông đều man mác bao niềm thao thức đó…Ðáng kể nhất là tác phẩm biểu hiện một con chim đang đứng với một chân trên mõn đá cô đơn, mắt nghiêng lên trời cao như muốn bày tỏ chân tình của mình…Thi tứ của Zhu Da, thời buồn man mác, nét cọ quẩn quanh, bối rối, như bao dày dò trong tâm thức,chịu ảnh hưởng nhiều đến kỹ thuật của Xu Wei...
ZHU-DA
Mực
Cuối cùng là YUAN –JI (1641-1707),người họa sỹ, tu sỹ này, cũng là một nhân vật có quan hệ trong hoàng tộc triều Minh, thất lạc gia đình, trong những ngày ly loạn ở Quế-lâm(Guilin).Thuở thiếu thời, đi và sống thật nhiều nơi, trên mọi lảnh thổ khác nhau, khi ở Hồ Bắc,lúc xuôi dòng Giang Tây, cũng chính vì thế, nên trong các họa phẩm của ông, đều là những phong cảnh sông hồ ở Giang-Châu, Quế Lâm…
Một trong 4 họa sỹ đại tài, của trường phái phía Bắc, tranh của ông nhiều tính thơ mộng, trữ tình bởi thiên nhiên hùng vĩ, ông có thể được gọi, như một nghệ sỹ, yêu thiên nhiên một cách nồng nàn nhất.
Tác phẩm”Hoa Cúc và Ðá Tảng”làm một đển hình, với bút pháp tài tình, uyển chuyển, đã làm tách hẳn với những ảnh hưởng của thời Nguyên, Minh, để tạo cho mình một tiếng nói,một thế giới riêng biệt.Cũng nên nói thêm ,những biểu hiện hội họa như: Tứ Thời, Tứ cảnh, Xuân ,Hạ,Thu, Ðông, Mai, Lan Cúc Trúc…đều khởi sinh trong giai đoạn này ,cùng làm ảnh hưởng ít nhiều, đến những biểu hiện trang trí,trong các tác phẩm hội họa cổ ở Việt-Nam…
Nhìn một cách chung nhất, 4 họa sĩ xuất gia Thanh triều, đều là những sĩ phu yêu nước, với chung một niềm hoài cổ mênh mang, Những trí thức của Minh Triều, đang thương tiếc, cho bao gía trị đã mất,mỗi một ngừời tìm đến một nơi chốn bình an, mỗi một người, làm những sáng tạo qúy báu, những tinh hoa không thể nào so sánh nỗi,chẳng khác nào như 4 họa sỹ họ Vương ở Bắc Kinh, đã làm rạng rỡ một miền Dương-Châu, làm nền tảng cho cho sự phát triển của trường phái Dương Châu sau này….
JUAN- JI
Kích Thứơc , Sưu Tập Không rõ




No comments:
Post a Comment