Tuesday, April 9, 2024

ĐÀ LAT

 ADVERTISEMENT Home Xưa Nguồn gốc tên gọi Đà Lạt (Đạ Lạc) – Xuất phát từ tên gọi của một bộ tộc người bản xứ 2024/04/06 Địa danh Đà Lạt được bắt nguồn từ chữ Đạ Lạch (hoặc Đạ Lạc, Đạ Lạt). Thực ra, Lạch, Lạc, hay Lạt, Lát… đều mang chung một nghĩa, là tên của một nhóm cư dân nhỏ người dân tộc K’ho, sống lâu đời trên cao nguyên Lang Biang. “Lạch” theo tiếng địa phương có nghĩa là “rừng thưa” dùng để chỉ vùng rừng thông, đồi trọc từ dãy Lang Biang trải dài xuống Tây Nam, bao gồm cả thành phố Đà Lạt ngày nay. Nếu bạn là người yêu thích nhạc xưa, hãy theo dõi kênh YouTube này để nghe đọc các bài cảm nhận về âm nhạc (phân tích ý nghĩa, hoàn cảnh sáng tác, tiểu sử ca nhạc sĩ): LINK YOUTUBE  < Click Theo ngôn ngữ người Thượng, chữ Đạ (hoặc Dak) trong Đạ Lạch có nghĩa là suối, nước. Ở cao nguyên Lang Biang có 2 con sông lớn nhất cùng chảy ra sông Đồng Nai là Đa Nhim (Đạ Nhim) và Đa Dung, với chữ Đa mang nghĩa liên quan tới nước. Ngoài ra, các tên gọi Daklak hay Dak Nông và rất nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ Dak ở Tây Nguyên đều mang nghĩa là hồ nước (Daklak là Hồ Lak). Như vậy, Đạ Lạch, hay Đạ Lạc, đều mang nghĩa là một con suối của người Lạch, đó chính là con sông Cam Ly (suối Cam Ly) uốn lượn quanh Đà Lạt, là nguồn nước chính cho sinh hoạt của người bản địa thời xa xưa. Sông Cam Ly khởi nguồn từ huyện Lạc Dương, thác Cam Ly chảy qua Đà Lạt theo hướng Bắc – Nam, trong đó đoạn từ khoảng Hồ Than Thở tới thác Cam Ly ngày nay, được gọi là Đạ Lạch. Xem bài khác Phong cảnh Đà Lạt xưa tuyệt đẹp qua bộ sưu tập ảnh nghệ thuật Cảnh quan của “vùng bất kiến tạo” ở Đà Lạt nghĩa là gì? Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Revue Indochine tháng 4 năm 1944, công sứ Cunhac, một trong những người tham gia xây dựng thành phố từ ngày đầu, đã nói: “Cho mãi tới những năm sau này, khung cảnh ban sơ vẫn không có gì thay đổi. Ở tại chỗ của cái hồ nước trước đó, con suối nhỏ của bộ lạc người Lát đã chảy qua và người ta đã gọi suối này là Đà Lạt”. Vào thời kỳ đầu, các bản đồ cũng như sách báo thường chỉ nhắc đến địa danh Dankia hay Lang Biang. Nhưng sau khi Đà Lạt được chọn làm nơi nghỉ dưỡng thay vì Dankia, và đặc biệt từ khi nơi đây trở thành một thành phố, địa danh Đà Lạt mới xuất hiện thường xuyên. Trong các bản đồ được vẽ khi khảo sát địa hình, vùng đất này chỉ được ghi chung chung là Lang Bian, như trong bản vẽ năm 1898 sau đây. Chỉ vài năm sau đó, như công sứ Cunhac nói bên trên, sau khi toàn quyền Doumer quyết định chọn Đà Lạt làm nơi nghỉ dương thay vì chọn Dankia, thì cái tên “dòng nước của người Lat” (Đà Lạt) mới được sử dụng thường xuyên. Vào năm 1901, Prosper Odend’hal (thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ) đã gọi Đà Lạt là “thành phố triển vọng”, nhưng nó mang tính tinh thần hơn là trở thành thực tế. Nói như vậy là vì vào năm 1901 Đà Lạt mới chỉ có một nhúm nhà văn phòng, công sở. Nhắc lại để thấy rằng dường như tên gọi Đà Lạt đã bắt đầu được gọi vào thời điểm này, khi nó chỉ mới là triển vọng ban đầu. Năm 1906, trong bản đồ án quy hoạch đầu tiên Đà Lạt của thị trưởng Champoury, có ghi rõ tên gọi Dalat, như trong hình bên trên. Nhưng tới năm 1918, trong bài Lâm Viên Hành Trình Nhật Ký của ông Đại thần triều đình Huế là Đoàn Đình Duyệt, nhân chuyến thay mặt vua Khải Định đi công cán lên Lâm Viên năm 1917, ông đã gọi Đà Lạt bằng cái tên Đa lạc. Điều đó cho thấy thời điểm đó người ta vẫn chưa thống nhất về tên gọi, ít nhất là có sự khác biệt giữa người Pháp và người An Nam. Từ chữ Đạ và Lát trong tiếng Thượng, người Pháp ghi không dấu thành Da Lat trong các văn bản hành chánh hoặc báo chí, và được người Việt đọc ngược trở lại thành Đà Lạt. Đó chính là nguồn gốc của tên gọi này. Những người Pháp làm nhiệm vụ kiến thiết Đà Lạt còn sáng tạo một câu cách ngôn khéo léo bằng tiếng La Tinh với các chữ cái đầu tạo thành chữ DALAT, đó là: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem, có nghĩa Cho người này nguồn vui, cho người khác sự mát mẻ. Tác giả André Morval đã viết câu cách ngôn chiết tự này ở đầu một bài báo nhan đề Dalat: Cité de la Jeunesse với nội dung: “Những người khai sinh ra nơi nghỉ mát trên miền núi danh tiếng của chúng ta đã xác định một cách rất hợp lý những nét hấp dẫn và những đặc tính tốt bằng một câu cách ngôn ghép chữ đầu rất khéo léo để liền theo huy hiệu thành phố”. Biểu tượng của Đà Lạt (thị huy) được gắn trên chợ Đà Lạt năm 1937 (nay là Hội trường Hòa Bình) Năm 1937, khi xây dựng chợ Đà Lạt mới thay cho ngôi chợ cũ bằng gỗ bị cháy, người ta đã đề dòng chữ Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem trên tường đầu hồi của công trình, phía trên là huy hiệu thành phố hình tròn, tạc hình một đôi thanh niên nam nữ người dân tộc cùng với hình núi đồi nhấp nhô và hình hiệu một con cọp. Với khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và những di sản kiến trúc Pháp phong phú, Đà Lạt còn được gọi bằng nhiều cái tên khác như “Thành phố mù sương”, “Thành phố ngàn thông”, “Thành phố ngàn hoa”, “Xứ hoa Anh Đào” hay “Tiểu Paris”… Như vậy, tên gọi Đà Lạt có xuất xứ từ tên gọi người bản địa đầu tiên là người Lạt/Lạch. Vậy số phận của họ ra sao sau khi người Pháp khai phá vùng đất của họ trở thành một trạm nghỉ dưỡng vào những năm cuối thế kỷ 19? Trước thời điểm đó, xung quanh con suối Cam Ly (Đạ Lạch) không chỉ có người Lạch (người Pháp ghi là Lát) sinh sống, mà có thêm tộc người Chil và Srê đều là dân tộc K’Ho. (Chuyện tình làm nên truyền thuyết núi Lang Biang thuộc 2 tộc người này, chàng Lang người Lạch, còn nàng Biang người Srê). Hai bộ tộc Lạch, Chil có quan hệ gần gũi về chủng tộc và văn hóa nên họ có những tập tục giống nhau. Về lịch sử, họ có một vị anh hùng là tù trưởng Yagut đã từng lãnh đạo các bộ tộc chống ngoại xâm. Trước người Pháp vài chục năm, danh sĩ Nguyễn Thông đã thám hiểm cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang) và đã gặp bộ tộc Lạch mà ông gọi là người Lạc. Tới năm 1893, Yersin mới tới Lang Biang và tiếp xúc với bộ tộc Lạch, ông đã phiên âm tên bộ tộc này thành M’lates. Thực ra tộc người này tự xưng là Lat hoặc Lạch, theo ngôn ngữ của dân bản địa có nghĩa là rừng thưa, người Lat thường chọn lập thành những “bon” (buôn làng). Sau khi người Pháp chiếm Lang Biang và vùng đất họ định cư từ lâu đời là xung quanh suối Cam Ly, thung lũng ngày nay là hồ Xuân Hương, người Lạch phải dời đến buôn Rơhàng Kròc (người Pháp phiên âm là Ankroet). Sau đó, khi người Pháp xây dựng đập Ankroet để làm thủy điện năm 1942, người Lạch lại phải dời đến buôn Đờng Tiang Đe ở trung tâm huyện Lạc Dương hiện nay. Đập tràn Ankroet năm 1953 Theo truyền thuyết và trong ký ức của một số người Lat, người Champa có một thời lên Lang Biang và mở những cuộc tấn công lấn chiếm đất đai ở đây. Dưới chân đèo Prenn từng là chiến trường khốc liệt Chăm và người Lat, người Chil. Người Chăm phá hủy nhiều công trình của người Lat, Chil nhưng chưa bao giờ đến được trung tâm Đà Lạt ngày nay. Đèo Prenn là ranh giới Chăm, Lat, Chil. Nhưng người Chăm bằng một con đường khác đã đến được Pak-Krông-Knô, vượt địa phận Lâm Đồng lên đến Daklak. Người Lat đã giữ được quê hương của họ (vùng quanh hồ Xuân Hương). Cho đến sau khi Toàn quyền Doumer đi thị sát Đà Lạt (1899), Đà Lạt được dần dần xây dựng thành thành phố nghỉ dưỡng cho người Pháp, người Lat mới bỏ quê hương yêu dấu nhất đi xa dần “cố quốc”. Xã hội Lat thời điểm đó gần với xã hội nguyên thủy, thành phần xã hội chưa hình thành rõ nét. Người Lat sống với nhau trong quan hệ bình đẳng, chưa có ý thức rõ ràng về giai cấp, về giàu nghèo, không có giai cấp thông trị, bị trị. Các Knan bơn (chủ làng) có quyền lợi về tình thần hơn là vật chất. Họ có trách nhiệm theo như trong truyền thống tín ngưỡng được Yàng (Thần) đồng ý quản lý dòng họ, buôn bản, sau khi đã được toàn dân trong buôn bản lựa chọn. Kuan bon thực chất là những người có kinh nghiệm lao động giỏi, có trình độ văn hóa cao hơn những người khác được các già làng phục, kính mến, vì đức cũng như tài. Kuan bon cũng lao động để sinh sống, chứ không phải kẻ “ngồi mát ăn bát vàng” hoặc những tay “lý luận, ba hoa”. Vì vậy Kuan bon thực sự có uy tín, ít có trường hợp bị chê khinh và bị lật đổ. Các Pôdâu, Pôkrù (thầy phù thủy, thầy cúng) là những thầy thuốc chữa bệnh cho dân làng, thầy giáo của buôn bản có trách nhiệm về văn hóa của bộ tộc. Cũng như các thành viên khác, Pôdâu, Pôkrù đều phải lao động để sinh sống. Việc chữa bệnh, “lên lớp giảng đạo lý” chỉ là những trường hợp quan yếu, đặc biệt, Pôdâu, Pôkrù thường hiểu nhiều các phong tục tập quán truyền thống của dân làng. Họ là những người có kinh nghiệm nương rẫy và thời tiết. Do đó họ được mời phân xử các vụ tranh chấp, kiện cáo, được cùng Kuan bon quyết định việc dời chỗ ở, di dân, việc cử hành hội hè cúng tế của toàn “bon”. Kuan bon, Pôdâu, Pokrù, Pôluu (chủ nhà) hợp thành một bộ máy quản lý buôn làng, đơn giản nhưng bền chặt xã hội Lat qua bao đời trước khi người Pháp xâm chiếm vùng Tây Nguyên. Trong xã hội Lat chỉ có một ít người bị coi thường. Đó là những “để” (đầy tớ). Các “đe” xuất thân từ các tù binh sau các cuộc chiến tranh giành đất của các dòng họ, hoặc con cháu của những người bị nghi là “Ma-lai”. Tuy nhiên các “để” vẫn được sống trong các nhà dài, được chia phần ăn giống như bất cử thành viên nào, “đe” cũng có thể kiếm một mảnh đất nào đó để canh tác trồng trọt kiếm thêm “cái ăn”. Trong cộng đồng người Lat, mọi người bình đẳng, dân chủ từ việc chia đất, lao động cho đến việc quyết định phân ly hay quần tụ của bộ tộc, thương lượng hay chiến tranh với dòng họ, bộ tộc khác. Nói chung trong xã hội ấy con người sống thoải mái, dễ dãi tự do nếu chinh phục được thiên nhiên. Cuộc sống trong buôn bản ấy dễ chịu vì tình thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Người Lat hiện còn theo chế độ mẫu hệ. Người con gái đến tuổi lập gia đình thì “bắt chồng”, con trai được bắt về cư trú nhà vợ. Cuộc sống, sinh hoạt của người chồng tùy thuộc vào vợ. Vì vậy có câu tục ngữ : Um mơ h’ru chil cau Um mơ vau chil n’dĩ Dịch là: Ở với chị thì làm người Ở với vợ thì làm tớ Câu tục ngữ trên cho thấy vai trò quan trọng của phụ nữ Lat: Người mẹ, người chị trong gia đình là người tổ chức sắp xếp việc ăn ở, nuôi dạy con cái trong khi người đàn ông, người chồng chủ yếu lao động kiếm cái ăn, cái mặc. Vì thế người đàn ông là người ở ngoài xã hội, buôn làng. Người phụ nữ là nội tướng, đàn ông là những Kuan bon, Pôdâu, Pôkrù… Tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng trong xã hội người Lat là lao động và nết na. Yêu đương tự do không phân biệt tầng lớp giàu nghèo. Sự thành vợ, thành chồng phần nhiều do kết quả của tình yêu nam nữ. Có một vài cấm ky về kết hôn như sau: các dòng họ Buôntô-Dayu, Lienyang-Lienghot, K’Sar-Cil… không được cưới nhau. Theo các già làng Lat giải thích, các dòng họ ấy xưa vốn cùng một gốc. Việc kết hôn hai họ cùng một huyết tộc sẽ sinh ra quái thai, trẻ con sẽ chết yểu… Ngày nay sự cấm ky trên có phần bớt khe khắt. Người con gái Buôntô, họ K’ Star có thể bắt “chồng” chàng trai họ Dayu, họ Cil được miễn là nàng và chàng thành thật thương nhau. Người Lat có truyền thống tôn trọng người già. Thức ăn ngon, váy khố đẹp đều dành cho người già. Có cha mẹ từ 60 trở lên, con cái lấy đó làm một điều hãnh diện, thường làm lễ mừng thọ. Khi cha mẹ đã mất, con cái làm lễ đền ơn nếu trong thời gian cha mẹ sống nhưng vì nghèo chưa làm lễ mừng thọ được. Các trường hợp ly dị, ly hôn, ngoại tình, thông dâm ít xảy ra trong bộ tộc người Lat. Nhưng ai phạm các tội trên phải chịu các hình phạt rất nặng, và bị dân bon khinh rẻ. Các tội “bội”, lường gạt, ăn cắp cũng bị các hình phạt tương tự. Tội “loạn luân” bị trừng phạt thật nặng, sau hình phạt phạm nhân còn bị đối xử tàn tệ, bị coi khinh như heo, không được ngồi ăn chung với mọi người, mà phải ăn một mình trong máng heo. Người Lat/Lạch hiện nay vẫn sống trên mảnh đất cũ của tổ tiên mình ngày nay đang bị thu hẹp dần vì những áp lực của sự phát triển xã hội. Dân số tăng lên ít nhiều, từ 800 người (1940) lên 2.700 người hiện nay, tập trung chính là ở Xã Lát (Lạc Dương): 2.411 người (387 hộ). Số còn lại ở rải rác nhiều nơi, nhưng tập trung nhất vẫn là Đà Lạt, Lâm Hà, Đức Trọng và Đơn Dương (khoảng 300 người). Trong suốt thời kỳ lịch sử, do tiếp xúc với nền văn hóa phát triển hơn, đặc biệt là văn minh phương Tây trước đây và người Kinh sau này, người Lạch đã bỏ nhiều hủ tục lỗi thời, cởi mở hơn trong sự tiếp thu các nền văn hóa mới. Điều đáng tiếc là một nền văn hóa cổ truyền phong phú và hấp dẫn, nhiều truyền thống nhân văn quí báu cũng chính vì thế mà bị lãng quên dần và thậm chí bị coi là “quá khứ lạc hậu”. Đông Kha  Share 0 Xem bài khác XƯA Phong cảnh Đà Lạt xưa tuyệt đẹp qua bộ sưu tập ảnh nghệ thuật Mời các các bạn xem lại bộ sưu tập ảnh nghệ thuật tuyệt đẹp của Đà Lạt xưa của nhiếp... APRIL 9, 2024 XƯA Cảnh quan của “vùng bất kiến tạo” ở Đà Lạt nghĩa là gì? Gần đây, trên báo chí, bạn đọc có thể đã đọc được thông tin liên quan tới "không gian bất... APRIL 9, 2024 XƯA Hình ảnh hiếm Đà Lạt thời thập niên 1990 Mời các bạn xem lại bộ sưu tập hình ảnh chụp Đà Lạt vào những năm đầu thập niên 1990,... APRIL 8, 2024 XƯA Hình ảnh tuyệt đẹp của người Sài Gòn xưa trên đường phố trước 1975 Mời các bạn xem lại những hình ảnh người Sài Gòn xưa các nẻo đường thân thuộc trước 1975. Nhìn... APRIL 7, 2024 XƯA Sơ lược lịch sử xây dựng Đà Lạt qua bài báo năm 1941 Ngày nay, Đà Lạt là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là những... APRIL 6, 2024 XƯA Lịch sử hình thành và bộ ảnh xưa tuyệt đẹp của khu Hòa Bình ở trung tâm Đà Lạt Nếu nói về vị trí trung tâm của toàn thành phố Đà Lạt hiện nay, người ta sẽ nghĩ tới... APRIL 5, 2024 Tags anh bằng anh việt thu châu kỳ chế linh duy khánh giao tiên hoài linh hoàng nguyên hoàng oanh hoàng thi thơ hoàng trang huỳnh anh khánh ly lam phương lê dinh lê minh bằng lê thương lê uyên phương lệ thu minh kỳ mạnh phát nguyễn tất nhiên nguyễn văn đông ngân giang ngô thụy miên ngọc lan như quỳnh phạm duy phạm đình chương saigon collection song ngọc thanh sơn thanh thúy thái thanh tiểu sử ca sĩ tiểu sử nhạc sĩ trúc phương trường sa trầm tử thiêng trần thiện thanh trịnh công sơn từ công phụng văn cao vũ thành an y vân Home Xưa Sơ lược lịch sử xây dựng Đà Lạt qua bài báo năm 1941 2024/04/06 Ngày nay, Đà Lạt là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là những người yêu mến cảnh sắc, không khí của Đà Lạt. Nếu bạn là người yêu thích nhạc xưa, hãy theo dõi kênh YouTube này để nghe đọc các bài cảm nhận về âm nhạc (phân tích ý nghĩa, hoàn cảnh sáng tác, tiểu sử ca nhạc sĩ): LINK YOUTUBE  < Click Lịch sử hình thành của Đà Lạt có nhiều điều thú vị, điều gì đã hình thành nên một thành phố du lịch Đà Lạt nổi tiếng từ gần 100 năm trước? Bài báo được viết hơn 80 năm trước sau đây sẽ phần nào trả lời cho câu hỏi đó. Ngay từ năm 1941, tác giả bài viết này đã viết như sau: Liệu Đà Lạt có thể trở thành một trung tâm hành chính hay không? Điều này chỉ có Chúa mới biết! Nhưng nếu điều đó trở thành sự thật thì quả là tai hại. Tương tự như câu chuyện đã xảy ra với Hà Nội. Hà Nội đã mất rất nhiều và Đà Lạt cũng không ngoại lệ, sẽ chật ních người, sẽ ngổn ngang công trường xây dựng và tấp nập xe hơi. Đà Lạt sẽ mang dáng dấp của những thành phố khác, sẽ mất đi thế mạnh độc đáo, mất đi chức năng ban đầu của mình là một thành phố nghỉ dưỡng Bên phải tôi là bình lay-ơn lộng lẫy, bên trái là những bông cẩm chướng tuyệt đẹp và ngát hương hệt như loài cẩm chướng ở Pháp. Bên trong chiếc bình cổ là nhánh lan đất màu vàng mà tôi kiếm được từ trong rừng. Trước mặt tôi, sáu nhánh hoa mimosa nhỏ tỏa hương thơm ngát theo làn gió len vào qua khung cửa. Ba bông hồng lớn màu xanh dịu đặt trước lò sưởi chờ được cắm vào bình pha lê. Xem bài khác Phong cảnh Đà Lạt xưa tuyệt đẹp qua bộ sưu tập ảnh nghệ thuật Cảnh quan của “vùng bất kiến tạo” ở Đà Lạt nghĩa là gì? Đó là Đà Lạt! Đà Lạt trước hết là xứ sở các loài hoa. Ở xứ này, ngay cả những loài hoa bình dị, thường gặp nhất cũng trở nên sặc sỡ lạ kỳ. Hoa Xôn (Salvia farinacea) ở đây đậm sắc hơn hoa Xôn Hà Nội, ngay cả với giống tía tô, ở Đà Lạt cũng xanh tốt hơn nơi khác. Không có ngôi nhà nào là không trồng đầy hoa xung quanh. Người ta làm hàng rào bằng hoa hồng, trong sân thì đầy hoa chân bê và hoa huệ. Còn hoa giấy và các loài dây leo màu cá vàng thì leo lên tận ban công. Ngay cả những túp lều của người dân tộc thiểu số cũng vui mắt với những bụi hoa chuối và hoa dong riềng. Trong các vườn rau, những bông hoa trắng của cây cơm cháy nhẹ nhàng đung đưa trong gió. Đà Lạt dường như không thiếu loại hoa nào, hằng năm có tới 90 tấn hoa được chuyển về Sài Gòn. Đà Lạt cũng được mệnh danh là xứ sở của ngàn thông. Đi dạo dưới những cánh rừng thông là một trải nghiệm khoan khoái tuyệt vời, không khí trong lành thoảng mùi nhựa thông căng tràn trong lồng ngực. Không một bụi rậm, không dây leo rối rắm, cũng chẳng có những túp lều lụp xụp. Cỏ cao lấp xấp vừa tầm, xen lẫn những đóa hoa nhỏ đủ màu sắc vàng, xanh, tím hoa cà,… vươn lên khoe dáng, chẳng bận làm vướng chân người thưởng ngoạn hay che khuất tầm nhìn của ai. Những thân cây cao vút cũng khiến ta hứng thú. Phóng tầm mắt xuyên qua những hàng cây là những cánh rừng thông bạt ngàn, xa tít tắp, chỉ còn thấy những mảng màu xanh dương và xanh lục trải rộng tới tận chân trời. Nhìn từ trên cao, Đà Lạt hoàn toàn không phải là một thành phố mà là một thảo nguyên nhỏ uốn lượn trùng điệp, với thứ cỏ khổng lồ mang tên thông trải rộng khắp chốn, và còn có một thứ hoa đỏ như son điểm xuyết cho thảo nguyên là những mái nhà ngói đỏ mới xây. Các nhà khoa học, những người không biết mình đã nực cười như thế nào khi nói rằng giống thông Langbian đẹp đẽ và phong phú chính là cô gái đẹp mang đến thảm họa và nghèo đói. Nói một cách chính xác, cao nguyên đã bị đốt cháy đến độ đất đai trở nên khô cằn, chỉ những giống cây như thông mới thích nghi và phát triển được. Trong khi nhiều loài cây khác phải chờ đến khi đất đai tốt hơn mới mọc lên được thì thông lại chính là loài cây giúp hồi sinh đất. Cho đến khi đất đai màu mỡ trở lại, những giống cây vốn háu ăn, mau lớn, thường lấn át loài thông vốn phát triển chậm chạp, thì lúc đó thông đã đủ vững chãi để tự bảo vệ mình. Một câu chuyện thú vị khác về một nhà bác học nổi tiếng và khá uy tín hiện nay là bác sĩ Yersin, người đã phát hiện ra Đà Lạt và giới thiệu nó với mọi người. Khoảng năm 1890, Yersin trong vai trò một nhà thám hiểm khám phá cao nguyên và là một “nhân viên trắc địa… bất đắc dĩ” đã bị người bản xứ đuổi bắn. Năm 1893, Yersin tiếp tục đội mưa xuyên rừng nhằm chinh phục đỉnh Lang Bian, khi trở về, ông bị một tên cướp theo dõi và bị bắn trọng thương ở chân. Chuyến thám hiểm này đã được chính Yersin kể lại, cả việc ông đã chăm sóc một con voi hoang dã. Câu chuyện về chuyến thám hiểm Đà Lạt của bác sĩ Yersin được chú ý đến ngay lập tức. Ý tưởng về việc thiết lập một khu điều dưỡng trên cao nguyên LangBian đã được vạch ra và tiến hành một cách chậm chạp nhưng kiên trì. Năm 1897, chính quyền phái hai đoàn khảo sát nhằm mở đường lên LangBian, xuất phát từ Phan Rang, một đoàn có nhiệm vụ nghiên cứu phương án xây dựng tuyến đường sắt (đoàn Thouard), đoàn còn lại nghiên cứu phương án mở tuyến đường bộ (đoàn Garnier). Năm 1899, đích thân toàn quyền Paul Doumer cưỡi ngựa lên Lang Bian để khảo sát. Hai năm sau đó, đoàn quân của chỉ huy Guynet đã bắt tay vào xây dựng những ngôi nhà gỗ đầu tiên ở Đà Lạt. Tiếc rằng, việc toàn quyền Doumer hết nhiệm kỳ và trở về Pháp vào năm 1902 đã làm trì hoãn mọi kế hoạch trước đó. LangBian tiếp tục rơi vào quên lãng trong suốt 10 năm tiếp theo. Mãi đến tận năm 1912, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut mới phê duyệt ngân sách để làm đường và xây một vài ngôi nhà cho Đà Lạt. Con đường xe ô tô chạy được từ Sông Pha [Krongpha] tới Đà Lạt qua Đèo Ngoạn Mục [Bellevue], thung lũng Đa Nhim [Danhim] và thung lũng Phi Nôn [Fimnon] đã thành hình. Đoạn cuối của con đường này (phía Đà Lạt) ngày nay (1941) đã không còn được dùng nữa vì nó đã nối vào đường từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Năm 1915, dòng người Châu Âu đầu tiên tới Đà Lạt. Năm 1917, toàn quyền Roume khánh thành Langbian Palace [nay là Đà Lạt Palace], sự kiện này được coi như dấu mốc khánh thành khu nghỉ mát Đà Lạt. Trước đó, từ năm 1897 – 1898, người ta đã xây dựng trạm thử nghiệm nông nghiệp Dangkia (Suối Vàng), nhưng dự án này thất bại và trạm bị bán rẻ lại sau 10 năm vào năm 1907. Giai đoạn từ năm 1898 – 1900, các đoàn khảo sát Odhéra, Garnier, Bernard đã lên Đà Lạt để nghiên cứu làm đường bộ Sài Gòn – Đà Lạt. Từ 1903-1909, đường sắt Phan Rang – Xomgon (Xóm Gòn) được xây dựng hoàn thành, đoạn này dài 38km nằm hoàn toàn trên vùng đồng bằng. Ngoài ra, còn một số đoàn khảo sát khác có thể kể đến như đoàn quân sự của de Beylié, Pennequin, Bizar; các đoàn dân sự của Ducla (bên công chánh) và đoàn của bác sĩ Vassal (viện Pasteur). Tuy nhiên, Đà Lạt chỉ thực sự trở thành một đô thị từ năm 1922, khi người ta bắt đầu thực hiện đồ án quy hoạch của kiến trúc sư Ernest Hébrard. Đây là một nhà quy hoạch đô thị có tầm nhìn phóng khoáng và đã thiết kế cho Đà Lạt một thành phố 300 ngàn dân (có thể mở rộng thêm). Nhờ quy hoạch từ đầu khi dân cư vẫn còn thưa thớt nên việc xây dựng Đà Lạt được làm bài bản, không có các khu nhà chen chúc. Những căn biệt thự rộng rãi nằm giữa các khuôn viên đầy hoa cảnh, cây trái rải rác khắp nơi. Dẫu vậy, vẫn có một sự bất tiện với cư dân Đà lạt, đó là khoảng cách giữa các địa điểm trong thị tứ này. Nếu không có xe hơi thì nhất định phải có đôi chân thật khỏe mạnh. Những ngôi nhà nằm cách xa nhà ga hay trường Grand Lycée từ 3km đến 4km là chuyện phổ biến. Đi chợ hay đi xem phim đích thực là một chuyến đi dạo rất tốt cho sức khỏe. Và ý tưởng tuyệt vời nhất cho nơi này chính là tạo ra một cái hồ nhân tạo tuyệt đẹp ở khu vực trung tâm bằng cách xây đập trên suối Cam Ly. [Hồ Lớn, sau đổi tên thành Hồ Xuân Hương]. Nếu hỏi rằng quy hoạch của Hébrard có phải là phương án quy hoạch tối ưu nhất, thì câu trả lời chắc chắn là tối ưu nhất trên mọi phương diện. Nhưng tại sao lại làm những con đường dốc thẳng tắp lên xuống ở một nơi có nhiều sườn đồi như Đà Lạt? Khi làm những con đường như vậy, người ta cũng đã lường trước những bất tiện và nguy hiểm, cách làm này cũng đã bị bãi bỏ hoàn toàn ở Châu Âu từ mười lăm năm nay. Về phần những ngôi nhà, đúng hơn là những ngôi biệt thự, có thể nói rằng dù được tự do hoàn toàn, các kiến trúc sư đã không gây ra tình trạng lộn xộn, tai hại. Chắc chắn vẫn sẽ có những ngôi nhà không đẹp nhưng nhìn chung về tổng thể chúng ta vẫn thấy sự độc đáo, duyên dáng và hài hòa, tuân theo những quy tắc thẩm mỹ bắt buộc, những quy tắc đáng lẽ đã không ra đời nếu không có những nghệ sĩ tồi, tác giả của một số ngôi nhà. Dù dễ dãi đến mấy cũng không thể cho phép những thứ quá tệ, chẳng hạn như những mái nhà tôn lượn sóng, lại còn hoen gỉ, dù có phủ quanh đầy những cây hoa trông vẫn rất bôi bác không gian. Quả là một sự cưỡng bức đáng giá! Dọc theo các con phố, người ta cho trồng những hàng cây anh đào dại. Thực tình, chúng trông không được đẹp nhưng tới mùa ra hoa thì trông cũng vui mắt. Như tôi đã nói, Đà Lạt được mệnh danh là xứ sở của hoa và thông. Dân dã hơn, Đà Lạt còn là xứ sở của rau. Ta có thể ăn rau thỏa thích bằng nhiều cách như bằng mắt, bằng tai, bằng mũi và những giác quan này kích thích người ta ăn rau thỏa thích bằng miệng. Đà Lạt cũng có nhiều loài cây trái thơm ngon khác. Đà Lạt sản xuất ra bao nhiêu rau thì xuất đi bấy nhiêu, con số đáng nhớ là 1.200 tấn rau mỗi năm. Tiện đang nói về nông nghiệp, xin phép được kể thêm về những đồn điền chè tuyệt đẹp ở Entre Rays [Cầu Đất] với sản lượng 160 tấn/năm và những đồn điền cà phê ở Phimnon cho thu hoạch 50 tấn/năm. Lân cận quanh Đà Lạt còn có hai nông trại lâu đời và phát đạt. Cái đầu tiên là ở Dangkia, gần các thác nước ở Ankroet. Nông trại này hiện được quản lý và điều hành bởi một người nhập cư, cung cấp sữa, bơ và phô mát trắng theo yêu cầu của khách hàng. Ban đầu nơi đây là một trại thử nghiệm nông nghiệp của chính quyền, nhưng đã bị dẹp bỏ và bán rẻ lại cho tư nhân từ năm 1907. Nông trại có đàn gia súc khỏe mạnh, nhưng khả năng chăn nuôi của họ còn khá hạn chế. Cái còn lại gần trung tâm Đà Lạt hơn, trong khu vực Cam Ly. Trại này cũng sản xuất và cung cấp sữa, bơ, phô mai. Bà O’Neil là người đứng tên chủ sở hữu, Cha của bà – ông Ancel là người quản lý chính ở đây. Người đàn ông này đã gầy dựng lên ở đây một đồn điền cà phê nhỏ với vỏn vẹn chỉ khoảng 20.000 gốc cà phê Arabicas, nhưng chất lượng cà phê ở đây lại hơn hẳn những nơi khác, loại hạt cà phê thu hoạch được là loại nhất và không bị sâu bệnh. Khu vực trồng rau, chanh thơm, bạch đàn và những cây Nhai Bách [tuyas] xinh đẹp lộng lẫy được dành riêng cho khách tham quan. Bò Ayrshire thuần chủng của Úc là giống gia súc duy nhất được nuôi ở đây. Với sự đầu tư của bà O’Neil, trại Cam Ly trở thành một trang trại hình mẫu về cơ khí hóa trong tất cả các khâu từ xử lý, khử trùng, làm lạnh, đóng chai, cọ rửa,… Tất cả điện sản xuất được lấy từ một trạm thủy điện với hai tua bin, công suất 155 mã lực và công suất 260 mã lực. Các tuabin điện cung cấp điện chiếu sáng, điện động lực và bơm nước lên cao. Mỗi bơm nước có thể đưa nước lên độ cao 77m với lưu lượng 200lít/giây. Dù được bảo trì rất tốt, các thiết bị trên hiện đều không dùng được nữa. Nguyên nhân là do trước đó, bà O’Neil cho người xây dựng ở Cam Ly một chiếc đập nước cao 14m, đáy dài 54,65m. Năm 1932, hồ Lớn [Hồ Xuân Hương] không thể chịu nổi lưu lượng nước quá lớn đổ xuống trong một cơn bão khiến cho đập chắn hồ bị vỡ. Chỉ trong tích tắc, lượng nước khổng lồ từ hồ đổ ập vào thung lũng Cam Ly nhỏ bé, cuốn phăng nhà cửa và cây cối. Nước lũ cuồn cuộn kéo theo những cái cây lớn liên tục xô vào chiếc đập của trang trại Cam Ly, nuốt sạch cả bờ đập cao to. Toàn bộ trang trại chìm trong con nước dữ. Sau khi nước rút, nhà xưởng sản xuất bị phủ một lớp bùn dày đến hơn 2m, những cây gỗ lớn còn nguyên vẹn nằm ngổn ngang trên bùn đất nhưng những bức tường thì chẳng còn gì đáng kể. Chiếc đập, công trình quan trọng không thể thiếu cho công việc sản xuất của nông trại bị phá hủy hoàn toàn, không còn được xây dựng lại nữa. Về thể thao, người ta đã từng tính tới những môn thể thao mùa đông như đua thuyền, quần vợt, gôn chín lỗ,… Nhưng thực tình, tôi không thấy nhà thể thao nào ngoài các tay quần vợt. Mùa thể thao, nói một cách chính xác là thời gian thuận tiện cho các hoạt động thể thao bắt đầu từ tháng giêng. Hoạt động vệ sinh môi trường và chăm sóc sức khỏe ở đây khá đầy đủ. Một bệnh viện nằm ở vị trí đắc địa, thuận tiện cho việc khám chữa bệnh. Viện Pasteur với trang thiết bị khá tốt có thể sản xuất ra nhiều loại vắc xin trong điều kiện nhiệt độ thuận lợi. Nguồn nước của thành phố được khử trùng cẩn thận, còn đèn điện thì thắp sáng khắp cả. Thành phố có một chiếc còi hụ báo giờ vào mười một giờ trưa mỗi ngày. Có thể nói, tiện nghi ở đây không thiếu thứ gì, thậm chí còn có cả đèn trang trí. Trẻ em nơi đây cũng được quan tâm sâu sắc. Thời tiết vô cùng mát mẻ thuận tiện cho các hoạt động trí óc, trẻ em cả trai lẫn gái đều có thể theo học tới bậc tú tài. Đà Lạt có hai trường trung học cùng tên Lycée Yersin là trường Petit Lycée và Grand Lycée. Trường Petit Lycée được xây dựng vào năm 1927, trong khi trường Grand Lycée được xây dựng sau đó vào năm 1932. Trường Petit lyceé, sau này là trường tiểu học Yersin Hai trường được đặt ở hai đầu thành phố. Việc tách ra thành 2 trường riêng biệt như vậy nhằm tránh các em học sinh lớn (trường Grand Lycée) đánh các em nhỏ hơn (Petit Lycée), tuy nhiên có một điều khá lạ là hai cơ sở giáo dục chính thức của thành phố lại được đặt ở cách nhau rất xa. Trường Grand Lycée Trường Grand Lycée có tầm nhìn rất đẹp do được xây dựng trên một ngọn đồi cao và có thể được nhìn thấy từ xa. Trường hiện đang được mở rộng vì học sinh tăng lên đều đặn mỗi năm. Thật không may, việc mở rộng trường đang bị trì hoãn vì lý do chiến tranh, dù đây là nhu cầu vô cùng cấp thiết trong hoàn cảnh hiện nay. Các em học sinh thì không biết bao giờ mới có thể đến Pháp học và các bậc phụ huynh thì muốn con em mình được học hành ở nơi có điều kiện thời tiết tốt hơn Sài Gòn và Hà Nội. Khoảng cách xa giữa trường Petit Lycée và Grand Lycée không phải là sự bất tiện chỉ duy nhất có ở đây. Trường học ở các thành phố của Pháp và Bắc Phi cũng được bố trí tương tự như vậy. Các chuyến xe buýt đảm nhiệm việc đưa rước học sinh nội trú hàng ngày ở trường Petit Lycée luôn phải theo lịch của các lớp cao hơn ở trường Grand Lycée. Có lúc, người ta đã nghĩ tới việc xây thêm các tòa nhà ở Grand Lycée để làm chỗ ở nội trú cho các em học sinh, cả trai lẫn gái. Tuy nhiên, giải pháp này chắc chắn không thể thực hiện vì nhiều lý do và trong tương lai, hẳn sẽ có đầy đủ cả hai trường trung học riêng cho nam và nữ. Xin nói thêm về hoạt động giảng dạy ở Lycée Yersin, công việc này được trao cho các giáo viên uy tín và nhờ khí hậu tốt, việc đào tạo giáo dục thế hệ trẻ hoàn toàn thuận lợi. Ở nơi có khí hậu ôn hòa như Đà Lạt, các cơ sở giáo dục tự do ngoài công lập cũng khá thu hút. Trường Nazareth do các sơ của tu viện Saint Paul thành lập, nhận các em bé nhỏ tuổi và giảng dạy từ rất nhiều năm nay. Trường trung học Couvent des Oiseaux Tiếp đến là trường trung học Couvent des Oiseaux (cấp II) thành lập năm 1935, xây ở vị trí thuận tiện, cơ sở vật chất hiện đại và cảnh quan tuyệt vời. Trường hiện đang giảng dạy cho hơn 200 học sinh, trong đó 160 em ở nội trú. Không khí trong lành, phòng học rộng rãi sáng sủa, chương trình học tuyệt vời do chính các sơ của Tu viện Saint – Augustin thuộc Dòng Đức Bà (Congrégation de Notre Dame) biên soạn tới tận ban tú tài. Chúng tôi biết rằng, các quý bà sẽ cảm thấy không thể sống ở Đà Lạt được nếu thiếu thốn các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp. Thấu hiểu điều này, bà Ancel ở khu vực Cam Ly đã chế tạo ra son phấn và kem dưỡng da để trang điểm và làm trẻ hóa da mặt. Phải tận tai nghe bà nói về kỹ thuật chế biến, tận mắt thấy bà lắc và giới thiệu những chai, lọ trong phòng thí nghiệm của bà mới hiểu bà đã bị cuốn hút vào công việc này nhưng đã gặt hái được những thành quả nhất định. Thừa nhận một số loại mỹ phẩm của Pháp không thể chế tạo được ở đây, bà Ancel tận dụng triệt để nguồn nguyên liệu tại chỗ để chế biến. Không thể chưng cất (làm sao có lợi nhuận khi chưng cất, bởi giá một lít tinh dầu hoa Cam neroli tự nhiên có giá 25.000 francs, trong khi một lít tinh dầu neroli tổng hợp chỉ có 50 francs), bà bèn sử dụng cách thức ngâm tẩm hoa truyền thống từ thời Grasse. Bằng cách ngâm các loại hoa, quả, cây lá với nhau (như dưa gang tây, chuối, dâu tây, lê, lá hương bài, hoa kim hoa, huệ tây củ,…) và xử lý vài gợn váng trong, bà thu được nhiều loại cồn thơm khác nhau. Và các quý bà xin hãy lưu ý rằng, bột phấn trang điểm của bà Ancel được chế tạo từ bột gạo, bột hạnh nhân mịn và hàn the, hoàn toàn không có cacbonat canxi với những tinh thể vô cùng nhỏ nhưng rắn chắc có thể làm xước da. Và son của bà Ancel thì hoàn toàn không có chứa Eosin độc hại. Chúng tôi có lẽ cũng cần lưu ý thêm rằng có rất nhiều sách ở Hiệp Hội Sáng Kiến, có thể thuê những con ngựa chỉ to bằng con dê nhưng lành tính với giá một xu để đi dạo, một vài đoạn suối Cam Ly với kha khá những loài cá nhỏ có thể là địa điểm yêu thích của những người câu cá nghiệp dư. Ngoài ra, còn có nhiều trò giải trí khác cho thị dân như xem chiếu bóng, chơi bài, tán gẫu,.. Tất cả những điều trên đây được cho phép ở Đà Lạt. Trên tất cả, Đà Lạt là một trung tâm dã ngoại lý tưởng. Cảnh quan khắp cao nguyên đều tuyệt đẹp với những con đường xe hơi và đường mòn trải rộng khắp nơi. Quanh Đà Lạt có thể tìm thấy nhiều điểm cao để ngắm cảnh như đỉnh Robinson, đỉnh Ba Cây Thông (les trois pins) và nhiều điểm du ngoạn đẹp như lac des soupirs [sau có tên tiếng Việt là Hồ Than Thở], la bois d’amour [rừng Ái Ân],… Hồ Than Thờ Rừng Ái Ân năm 1953. Đây là một rừng thông nằm gần Dinh III (Dinh Bảo Đại), phía đường Triệu Việt Vương, một khu rừng thơ mộng nhất của Đà Lạt khi xưa với cái tên mang đậm tính chất trữ tình: Rừng Ái Ân (Bois d’Amour). Bây giờ khu rừng này đã không còn nữa Các con thác ở Cam Ly nằm gần Đà Lạt, xa hơn là các thác ở Ankroet nhưng cũng chỉ cách vài kilomet. Tuy nhiên, đó chỉ là những con thác nhỏ, thực chất là những ghềnh nước. Nếu đi xe hơi riêng, trên đường về Sài Gòn, có thể ghé thăm các con thác lớn ở Liên – Khang [Liên Khương], dừng chân ở thác Gougah xinh đẹp hoặc tham quan hệ thống các thác nước hùng vĩ ở Pongour giữa khung cảnh núi rừng nguyên sơ và thơ mộng. Hẳn sẽ có người hỏi vặn tôi: Vậy những trận mưa tệ hại thì sao? Đúng vậy, ở Đà Lạt thường có mưa nhiều, trừ khoảng thời gian từ tháng một tới tháng ba, nhưng nhìn chung không quá nhiều như lời đồn thổi. Ở đây, mỗi năm chỉ có 150 ngày mưa, tương tự như tần suất mưa ở Paris, chắc chắn là ít hơn ở Brest hay Bordeaux. Lượng mưa trung bình hàng năm của Đà Lạt là 1.692mm là một điều hết sức bình thường ở xứ nhiệt đới, vẫn còn ít hơn lượng mưa của khu nghỉ mát trên cao nổi tiếng Simla (1.780mm) ở Ấn Độ. Đà Lạt chiếm giữ một vị trí địa lý tuyệt đẹp, khí hậu trong lành và ôn hòa, lưu thông thuận tiện với hệ thống đường sắt và đường bộ. Liệu Đà Lạt có thể trở thành một trung tâm hành chính hay không? Điều này chỉ có Chúa mới biết! Nhưng nếu điều đó trở thành sự thật thì quả là tai hại. Tương tự như câu chuyện đã xảy ra với Hà Nội. Hà Nội đã mất rất nhiều và Đà Lạt cũng không ngoại lệ, sẽ chật ních người, sẽ ngổn ngang công trường xây dựng và tấp nập xe hơi. Đà Lạt sẽ mang dáng dấp của những thành phố khác, sẽ mất đi thế mạnh độc đáo, mất đi chức năng ban đầu của mình là một thành phố nghỉ dưỡng. Khi bác sĩ Yersin tìm ra Đà Lạt vào cuối thế kỷ XIX, khi những đoàn khảo sát tiên phong đến Đà Lạt xây dựng những ngôi nhà gỗ đầu tiên, tất cả đều cùng chung một ý tưởng chính xác và hợp lý là chọn một nơi tốt nhất để xây dựng khu điều dưỡng. Nhưng ngày nay khi mọi thứ đang diễn tiến xa dần với mục tiêu ban đầu, tôi chợt nghĩ, hẳn là người ta đã bị lạc đường. Tác giả: P. Munier, tuần san Indochine số 28 ra ngày 13/3/1941 Dịch: Đông Kha Share 0 Xem bài khác XƯA Phong cảnh Đà Lạt xưa tuyệt đẹp qua bộ sưu tập ảnh nghệ thuật Mời các các bạn xem lại bộ sưu tập ảnh nghệ thuật tuyệt đẹp của Đà Lạt xưa của nhiếp... APRIL 9, 2024 XƯA Cảnh quan của “vùng bất kiến tạo” ở Đà Lạt nghĩa là gì? Gần đây, trên báo chí, bạn đọc có thể đã đọc được thông tin liên quan tới "không gian bất... APRIL 9, 2024 XƯA Hình ảnh hiếm Đà Lạt thời thập niên 1990 Mời các bạn xem lại bộ sưu tập hình ảnh chụp Đà Lạt vào những năm đầu thập niên 1990,... APRIL 8, 2024 XƯA Hình ảnh tuyệt đẹp của người Sài Gòn xưa trên đường phố trước 1975 Mời các bạn xem lại những hình ảnh người Sài Gòn xưa các nẻo đường thân thuộc trước 1975. Nhìn... APRIL 7, 2024 XƯA Nguồn gốc tên gọi Đà Lạt (Đạ Lạc) – Xuất phát từ tên gọi của một bộ tộc người bản xứ Địa danh Đà Lạt được bắt nguồn từ chữ Đạ Lạch (hoặc Đạ Lạc, Đạ Lạt). Thực ra, Lạch, Lạc,... APRIL 6, 2024 XƯA Lịch sử hình thành và bộ ảnh xưa tuyệt đẹp của khu Hòa Bình ở trung tâm Đà Lạt Nếu nói về vị trí trung tâm của toàn thành phố Đà Lạt hiện nay, người ta sẽ nghĩ tới... APRIL 5, 2024 Liên hệ Ban Biên Tập bbt@nhacxua.vn Trang Chủ Nhạc Xưa Cảm xúc âm nhạc Xuất xứ bài hát © 2020 NhacXua.VN - Nhạc Xưa Thời Báo.


Bạn đang sao chép nội dung của nhacxua.vn. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn nhacxua.vn kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense. KHÔNG được đọc lại bài viết để tạo video trên YouTube

Wednesday, April 3, 2024

ĐIÊN BIÊN

 👉

🌥️ 𝑯𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝑻𝒉𝒂̉𝒐 𝑯𝒐𝒔𝒕𝒆𝒍 Đ𝒊𝒆̣̂𝒏 𝑩𝒊𝒆̂𝒏 𝑷𝒉𝒖̉ 🌥️

     ✨ 𝘾𝙝𝙞̉ 𝙩𝙪̛̀: 𝟭2𝟵.𝟬𝟬𝟬/ 𝗞𝗵𝗮́𝗰𝗵/ đ𝙚̂𝙢 ✨

———————————————————

Tọa lạc tại trung tâm nhất thành phố Điện Biên Phủ, đối diện cổng vào khu di tích đồi A1, cách các điểm di tích chiến trường Điện Biên Phủ chỉ 50-500mét, sức chứa gần 70 khách, Hương Thảo Hostel Điện Biên Phủ có đủ các hạng phòng dorm, phòng đơn, phòng family, phòng homestays. Phong cách phục vụ thân thiện, nhiệt tình, cởi mở, hiếu khách của người Tây Bắc chúng tôi đã & đang liên tục đón các đoàn, du khách trong & ngoài nước.


𝑫𝒊̣𝒄𝒉 𝒗𝒖̣ 𝒃𝒂𝒐 𝒈𝒐̂̀𝒎: 

🌿 Nghỉ dưỡng tại hạng phòng tương ứng 

🌿 Miễn phí wifi tốc độ cao.

🌿 Đồ uống chào đón khi nhận phòng


𝑫𝒊̣𝒄𝒉 𝒗𝒖̣ 𝒕𝒊𝒆̣̂𝒏 𝒊́𝒄𝒉 𝒏𝒈𝒂𝒚 𝒄𝒉𝒂̂𝒏 𝒕𝒐𝒂̀ 𝒏𝒉𝒂̀, 𝒃𝒂𝒐 𝒈𝒐̂̀𝒎: 

🌿Tiệm cho thuê Thổ Cẩm chụp hình

🌿Đưa đón cho thuê xe oto/xe máy, book vé rẻ.

🌿 Siêu thị Đặc Sản Điện Biên ngay chân toà nhà.

🌿 Landtour / phototour, chụp hình tạo dáng đẹp.

🌿 Giặt & Sấy lấy ngay.

------------------------------------------

☎️Booking: 02153824018 | 0368042888 - 


🏘️𝐇𝐔̛𝐎̛𝐍𝐆 𝐓𝐇𝐀̉𝐎 𝐇𝐎𝐒𝐓𝐄𝐋 Đ𝐈𝐄̣̂𝐍 𝐁𝐈𝐄̂𝐍 & 𝐓𝐎𝐔𝐑𝐒 (ngay đối diện cổng chính đồi A1)

 🏢 Địa chỉ:  1004 đại lộ Võ Nguyên Giáp, Tổ 2, Mường Thanh, TP ĐBP.

➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖ 

📍Google Map: https://maps.app.goo.gl/2Y22Y7ZYKcYyGqwh9?g_st=ic

📍Link Page: https://www.facebook.com/profile.php?id=100091824587428&mibextid=opq0tG

📍Tiktok: https://vt.tiktok.com/ZSF5meJF6/

➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖➖ 

 #DienBien #DulichDienBien

#HuongThaoDienBienPhu

#DienBienPhuReviewtattantat

#Huongthaohosteldienbien 

#dulichdienbien #reviewdienbien #tourdienbien #reviewdienbienphu

#khamphadienbien 

#nghiduongdienbien

#dulichtaybac #checkinvietnam #dienbien #mingvivu #amingtour 

#amingtravel #amingbackpacker




Saturday, March 23, 2024

Saint Paul

 ✽  DƯỠNG ĐƯỜNG ANGIЕR (Clinique Algier à Saigon, 1908-1938) - Phòng khám tư nhân của bác sĩ hạng nhất ở Đông Dương lúc bấy giờ.


Dưỡng đường Angiеr (Cliniquе Angiеr) hoạt động từ năm 1908 của bác sĩ Henry Angier de Lohéac thành lập cùng các nữ tu dòng thánh Phao Lô. 


Dưỡng đường này nằm ở khu vực gần cảng Ba Son, sát Thảo Cầm Viên), đầu đường Rousseau (Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày nay), đấu lưng lại với tu viện La Sainte Enfance (sau này đổi tên thành tu viện Saint Paul) do Nguyễn Trường Tộ xây dựng) từ năm 1862.


Năm 1936, bác sĩ Angier qua đời, để tưởng nhớ ông, chính quyền cắt đoạn đầu đường Rousseau để đặt tên là đường Docteur Angier. 


Cũng trong năm này, các nữ tu dòng thánh Phao Lô quyết định thành lập bệnh viện Saint Paul tại số 280 Lеgrand dе la Lirayе (nay là đường Điện Biên Phủ). 


Còn dưỡng đường Angier cũ tiếp tục hoạt động một thời gian ngắn nữa thì đóng cửa để bàn giao cơ sở lại cho trường Ecole Normale d’instituteurs (là trường sư phạm thực hành, sau này trở thành cơ sở của 2 trường trung học nổi tiếng là Trưng Vương và Võ Trường Toản)


.

- - - ✰ - - -

#France_Indochine 


Xem thêm các Chủ Đề khác, ấn vào những đề mục hashtag ở phía dưới:


#FI_YTế_ĐôngDương 

#FI_SàiGònXưa

#FI_KiếnTrúc_SG




Friday, March 22, 2024

HERBAL BATH

 *** 7 Công dụng của bài thuốc tắm lá của người Dao Đỏ


1. Trị phong thấp, đau nhức xương khớp

2. Trị ra mồ hôi tay, mồ hôi chân

3. Tăng cường sinh lực nam giới.

4. Giải độc tố trong cơ thể

5. Giúp an thần, tĩnh âm

6. Cực tốt cho phụ nữ sau sinh.

7. Lưu thông máu huyết


*** 7 Beneficial fact of Red Dao Herbal Bath:


1. Treat rheumatism and joint pant

2. Treat sweaty hand and feet

3. Boots male virility 

4. Detoxifies the body

5. Calm the mind and body dispelling fatigue

6. Beneficial for women after child birth

7. Improves blood circulation...



Thursday, February 22, 2024

ĐÔNG DƯƠNG CHAMPA


👉

tượng đồng Khmer 30 cm, được ghi là bồ tát Bát Nhã ( Prajnaparamita ) hiện thân cho trí tuệ được tìm thấy ở khu vực Tây Nguyên miền Thượng. 

hình do cha Jacques Dournes/ cha Đuốc / cha Đức chụp 1970 trước khi ông về Pháp.

* bạn có thấy nét tương đồng nào với tượng bồ tát Tara Đồng Dương !? dù váy sarong của tượng Đồng Dương mang nét trang phục nữ người Rang Đê cổ khá rỏ .




🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏


Phật viện Đồng Dương 


Tôi chọn Phế tích đã từng có một nền móng cường thịnh nhất ở dải đất miền Trung cho chuyến xuất hành đầu năm Giáp Thìn với một nguyện cầu : Thiên hạ Thái bình. 

Người lái xe cho tôi hôm nay có lòng thành kính với Chămpa và Đức thế tôn. 

Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên khi tôi vẫn thắp nhang, lạy 9 lạy và đọc Kinh Lạy Cha trước Phật tổ hay các vị thần Ấn độ giáo. Bao năm đi qua các vùng đất khác nhau, các tộc người khác nhau, các tôn giáo khác nhau tôi vẫn giữ nghi lễ theo cách mà mình được dạy và thấy hoà ái, thương yêu, thông thuận nhất. 

Và vì lẽ nào đó mà tôi luôn được mở cửa ở các ngôi đền, luôn sẵn hương trầm và lửa, luôn có người chuẩn bị cho tôi giữ lễ cách riêng mình.


Nếu bạn là người theo Phật, hãy dành thời gian về Đồng Dương. Tôi tin rằng nơi này sẽ sớm được quy hoạch-  trùng tu - khởi tạo. Đến để có cảm nhận thật sự về Vô thường. Trong lẽ ấy dung dưỡng yêu thương và thông suốt mọi bề. 

Vùng đất nhỏ bé này cho bạn một loại năng lượng cân bằng : không khứ - không lai, không thủ - không xả, không phân chia - ngăn cách. Rất kỳ lạ là bạn sẽ không vui hay buồn, mà sẽ nhìn vào thứ hiện hữu : cánh cổng duy nhất còn lại ấy - thứ nối quá khứ và thực tại: để bạn tỏ tường chính bạn - ở đây. Và chỉ thế thôi ! 


Giờ bạn có thể đọc thêm bài của  TS. Phạm Quốc Quân để hiểu quá khứ và yêu thương tương lai từ điểm xuất phát này :


1. Bia ký còn cho hay, vào năm 875, “do lòng tin vào Phật giáo, Nhà vua đã cho dựng lên một Phật viện (Vihara) và đền thờ Laksmindra Lokesvara Svabhyada”. Cũng trên tấm bia này, có nhắc đến “cõi cực lạc” (Svargapura) hay “đô thị giải phóng” (moksapura), “nơi trú ngụ” của Phật (Buddhapada). Nhà vua nhấn mạnh đến kẻ nào phạm tội ác phải chịu đầy xuống địa ngục. Bia Đồng Dương 875 còn cho hay, sau khi xây dựng xong, Nhà vua cũng đã cúng dường nhiều ruộng đất, tiền bạc, nô lệ… cho Lokesvara. Ngài dặn rằng: sau khi băng hà, được đổi danh hiệu là Paramabuddhaloka. Như vậy, Nhà vua Indravarman II đã đồng nhất mình với Phật dưới dạng Bồ Tát.


Phật viện Đồng Dương là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng không chỉ của Vương quốc Chăm Pa cổ xưa, mà nó còn có ý nghĩa vô cùng lớn tới cả khu vực Đông Nam Á đương thời. Đây được xem là thánh địa Phật giáo có sức lan tỏa và ảnh hưởng tới các khu vực xung quanh trong các quốc gia Đông Nam Á cổ xưa.


Kinh đô Indrapura nằm gọn trên cánh đồng Đồng Dương, rộng khoảng 2 km. Các nhà nghiên cứu giải thích rằng, Đồng Dương là cánh đồng thiêng. Từ “Dương” là biến âm của từ “Yan” (trời/sự linh thiêng). Quả thật, với địa thế thung lũng chữ nhật, có ba mặt Đông, Nam, Tây được đồi núi bao bọc, rồi có cả dòng Ly Ly, như là một mạch mối giao thương với bên ngoài, được bố trí kín đáo, đã tạo cho Kinh đô này vô cùng hiểm trở, linh thiêng.


Mặc dù vậy, sử sách đã từng ghi chép rằng, khi Lê Hoàn còn làm tướng của Triều Đinh, đem quân đi đánh Chiêm Thành năm 982, đã khiến cho cả tòa thành Indrapura bị phá tan, Vương triều Indrapura bị sụp đổ hoàn toàn, chấm dứt sứ mệnh của triều đại này trong lịch sử Chăm Pa. Đây là một hiện tượng đặc biệt trong Vương quốc Chăm Pa có lịch sử vô cùng lâu dài trong các quốc gia Đông Nam Á cổ đại.


Tuy nhiên, không phải do sự tàn phá của vị tướng quân Lê Hoàn ở thế kỷ thứ 10, khi mà các nhà nghiên cứu có ý kiến rằng, Kinh thành Indrapura với Phật viện Đồng Dương là hai nơi hoàn toàn khác nhau. Thế nhưng, Phật viện này cho đến nay dường như chỉ còn là phế tích, do chiến tranh và thiên nhiên hủy hoại. Ngày nay, Phật viện Đồng Dương chỉ còn như một ngôi sao băng, với rất nhiều sự ẩn chứa dưới lòng đất, khiến cho nhiều nhà nghiên cứu quan tâm qua hàng thế kỷ nay, mong muốn tìm hiểu thời vàng son của nó mà sử sách và văn bia đã để lại.


Phật viện Đồng Dương bây giờ.


Năm 1901, L. Finot và sau đó, năm 1902, H. Parmentier đã khai quật ở đây trên quy mô lớn và đã tìm thấy 229 hiện vật, trong đó nổi tiếng nhất là bức tượng Phật đứng bằng đồng, cao hơn 1 mét. Đây có thể coi là pho tượng hoàn hảo nhất, đặc sắc nhất trong số những tượng Phật giáo Đông Nam Á thời cổ.


H. Parmentier còn cung cấp cho chúng ta một mặt bằng kiến trúc chính của Phật viện này cùng nhiều tác phẩm điêu khắc đá quý giá. Đền thờ chính và các tháp phân bố trên một trục từ Tây sang Đông, dài khoảng 1300 mét, chung quanh có tường gạch bao bọc. Từ khu đền chính có một con đường dài khoảng 760 mét chạy về phía Đông đến thung lũng hình chữ nhật như cảnh quan còn thấy hiện tại. Ngoài chính điện, ở đây còn tìm thấy nền tăng xá, giảng đường và nhiều dấu vết kiến trúc khác, giả thiết như là nơi lưu trú của các sư tăng về đây tu học.


Sau hai cuộc khai quật này, các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng tiến hành tìm hiểu nơi này vào năm 1996. Và, kết quả khai quật cùng với việc nghiên cứu địa tầng, cảnh quan, môi trường… đã cho rằng, Đồng Dương không thích hợp với việc xây dựng kinh đô của Vương triều Indravarman II. Nó chỉ là một Phật Viện, còn kinh đô được xây dựng ở nơi khác.


Ngày nay, Phật viện Đồng Dương chỉ còn lại một ngôi thành cổ với sự đứt đoạn và khuyết trống do thời gian và biến động của lịch sử. Tường thành hiện còn dài 155m, rộng khoảng 326m, chạy theo hướng Đông - Tây. Đây có thể là thành ngoại. Thành ngoại chứa 3 cụm kiến trúc đồng trục với tường thành và 3 hồ nhân tạo. Một ở góc Đông Nam và hai ở góc Đông Bắc. Tuy nhiên, 1 trong 3 hồ đó, ngày nay đã bị san lấp làm ruộng canh tác. Ngoài ra, ở góc Đông Nam của thành ngoại còn có vết tích của tòa nhà dài. Thành ngoại có hai cửa Đông và Tây, nhưng dấu tích rất mờ nhạt.


Trong thành ngoại là thành nội. Thành nội bao lấy nhà Thờ trung tâm, trong đó có tháp chính. Ở đây còn có một tháp đặc biệt, được dân gian gọi là tháp Giếng, nằm ở góc Tây Nam.


Dấu tích Phật viện Đồng Dương hiện chỉ có vậy. Tuy nhiên, những nghiên cứu khảo cổ học của H. Parmentier, đầu thế kỷ 20, đã chỉ ra rằng, ở đây có khu đền thờ chính, dài 326 m, rộng 155 m, xung quanh có tường gạch bao bọc. Từ khu đền chính có một con đường dài 760 m chạy về phía Đông. Khu đền này có 3 nhóm kiến trúc, chạy theo hướng Đông Tây: Nhóm phía Đông còn vết tích của tu viện Phật giáo, với di tồn còn lại là hai hàng 8 cột chạy song song, có bệ thờ lớn bằng sa thạch chạm khắc rất sinh động. Nhóm giữa còn lại là một ngôi nhà dài, chạy theo hướng Đông – Tây. Nhà có tường không dầy, cửa ra vào ở hai đầu hồi, hai vách tường có nhiều cửa sổ. Ở đây, tìm thấy 4 pho Hộ pháp (Dvarapala) khá lớn, cao khoảng 2 mét. Nhóm phía Tây là các đền thờ chính và tháp phụ xung quanh. Đền thờ chính là tháp truyền thống có mặt bằng hình vuông, cửa ra vào ở hướng Đông, phía trước có tiền sảnh, quanh tháp thờ có trang trí hình đầu voi và những mô hình tháp nhỏ. Trong đền/tháp chính có bệ thờ lớn bằng sa thạch, có nhiều trang trí công phu, tỉ mỉ, đặc biệt là cảnh sinh hoạt cung đình.


Mặc dù Phật viện Đồng Dương cho đến nay chỉ còn lại quá ít ỏi dấu tích kiến trúc. Tuy nhiên, những tàn tích của nó trong lòng đất, những ghi chép về nó trong lịch sử, những hiện vật nổi tiếng của nó đang trưng bày trong các bảo tàng, khiến nó xứng đáng trở thành di tích quốc gia đặc biệt và nó cũng xứng đáng được tôn vinh là đại diện cho một phong cách nghệ thuật Chăm Pa: Phong cách nghệ thuật Đồng Dương, có niên đại từ giữa thế kỷ 9 đến cuối thế kỷ 9.


Tôi hy vọng rằng, với những kết quả nghiên cứu mới, kết hợp với những tư liệu cũ, tương lai, Phật viện này sẽ được tái hiện tương đối đầy đủ hình hài để phát huy tới du khách trong và ngoài nước, với mong muốn Đồng Dương sẽ xứng tầm với sự vinh danh.


2. Phật Viện Đồng Dương và pho tượng đồng Laksmindra – lokesvara: Những nhận thức mới về tín ngưỡng và nghệ thuật Phật giáo của vương quốc Champa

Tác giả: Trần Kỳ Phương


Di tích Đồng Dương tọa lạc tại làng Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, đây là một phức hợp kiến trúc rộng lớn của một Phật viện (vihara) bao gồm nhiều tổ hợp đền-tháp. Đồng Dương là di tích Phật giáo lớn nhất của vương quốc Chiêm Thành/Chămpa; và là một trong những di tích Phật giáo quan trọng nhất của vùng Đông Nam Á. 


Phật viện Đồng Dương được đức vua Jaya Indravarman II, trị vì khoảng từ 875-899, thành lập năm 875 được khắc trong văn bia của ngài dựng tại di tích. Minh văn của vua Jaya Indravarman II ghi chép rằng:


“Đức vua Indravarman đã cúng dường ruộng đất và mùa màng thu hoạch, nô lệ nam nữ, bạc, vàng, đồng, và những vật quý khác đến Ngài Sri Laksmindra-Lokesvara, để xử dụng cho chư tăng, để hoàn thiện sự Hoằng Pháp. Bất cứ ai – vua chúa, đẳng cấp tướng lãnh (ksatriyas), đẳng cấp bà-la-môn, quan lại… thương nhân, kẻ nào dời chuyển, phá hoại hoặc… (những lễ vật này), chúng sẽ bị đoạ vào địa ngục Maharaurava; trái lại, ai bảo trì, phát hiện chúng (những lễ vật đã bị di dời), tùy theo hạnh nguyện, có thể tái sinh vào cõi Niết Bàn!” (Majumdar 1985: III, 88)


Theo minh văn trên, Phật viện này được cúng dường cho Laksmindra-Lokesvara, là đấng bồ-tát hộ trì cho vương triều Indrapura, trị vì vương quốc Chămpa từ 875-981. Đây là phức hợp kiến trúc đền – tháp Phật giáo to lớn và quan trọng nhất của vương quốc Chămpa được thể hiện qua các công trình kiến trúc cũng như tác phẩm điêu khắc mang lại một vẻ đẹp độc đáo duy nhất trong nghệ thuật Chàm. Ngoài ra di tích này cũng cung cấp những bia ký quan trọng góp phần tìm hiểu lịch sử và văn hóa vương quốc ChămPa trong các thế kỷ 9-10.


Theo khảo tả của Parmentier vào đầu thế kỷ trước, Phật viện này có ba tổ hợp chính trải rộng trên một chiều dài 1300 mét, theo trục Đông – Tây, được phân bố thành ba khu tường bao vuông vức, Parmentier đặt tên là Khu (Enceinte) I, Khu II và Khu III (Sơ đồ 1). Khu I bao gồm Phật đường chính của hoàng gia và những đền – tháp phụ bao quanh; Khu II là một tiền đình (mandapa) hình chữ nhật dùng để chuẩn bị nghi lễ như múa thiêng, hát thiêng, bày lễ vật… kết hợp với Khu I; Khu III là tự viện nơi hành lễ của chư tăng trong Phật viện và của các tín đồ (Trần Kỳ Phương 2008: 51).


Khu I là một tổ hợp đền – tháp đồ sộ dựng trong một khu tường bao hình chữ nhật, 326 x 155 mét, bao gồm Phật đường chính là kiến trúc to lớn nhất, trong chánh điện của nó bày một đài thờ lớn bằng sa thạch gắn sát vào tường phía tây. Đài thờ này là một tác phẩm điêu khắc hoàn chỉnh gồm hơn 30 hoạt cảnh khắc họa tiểu sử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni dựa theo hai phẩm Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh/Thần Thông Du Hý Kinh/Phổ Diệu Kinh (Lalitavistara Sutra) và Bổn Sinh Kinh (Jataka Sutra). Đặc biệt, các hoạt cảnh này diễn tả chi tiết và nhấn mạnh ba cuộc đại giác ngộ cuối cùng của đức Phật Thích Ca (Sakyamuni), chẳng hạn các cảnh Đại Xuất Gia (Mahabhiniskramana), Sa Nặc (Chandaka) dắt con ngựa Kiền Trắc (Kanthaka) trở về hoàng cung mang theo chiếc vương miện của thái tử Sĩ Đạt Ta (Sitthartha), đoàn quân của Ma vương (Mara) và ba người con gái của Ma vương hiện lên quấy phá đức Phật khi ngài thiền định, đức Phật chiến thắng Ma vương, … (Chutiwongs 2011: 18-26). Trên đài thờ này thờ ngẫu tượng của vị thần chủ của Phật viện là Bồ – tát Laksmindra – Lokesvara (thảo luận dưới đây).


Xung quanh Phật đường chính là các đền thờ phụ đều trổ cửa về hướng Đông, có thể đây chính là những ngôi đền nhỏ để thờ phượng tổ tiên của vua Jaya Indravarman II mà văn bia của ngài đã đề cập; đặc biệt, sát vào bốn bức tường bao có bảy ngôi miếu hướng về bốn phương, trong miếu thờ bảy vị bồ – tát Hộ Thế (lokapala); tấm bia nổi tiếng của vua Jaya Indravarman II cũng được tìm thấy trong khu vực này (Parmentier 1909: 484-5). Khu I nối với Khu II bằng một tháp – cổng gopura khép kín với tường bao ở phía đông.


Khu II gồm một mandapa (tiền đình) có kiến trúc hình chữ nhật có hai cửa chính Đông – Tây và hai bức tường Nam – Bắc mỗi bên có sáu cửa sổ, mái lợp bằng ngói dẹp hình mũi tên. Tiền đình là nơi tổ chức múa hát thiêng và chuẩn bị lễ vật cũng như thiền định trước khi vào hành lễ tại Phật đường của Khu I. Chính tại ngôi tháp – cổng ở hướng đông của tổ hợp này, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ba pho tượng thần hộ pháp dharmapala xung quanh cửa chính của ngôi tháp. Bốn pho tượng hộ pháp này (một pho tìm thấy tại phía bắc tháp – cổng của Khu III) đều có kích thước bề thế, mỗi pho được thể hiện bằng một tảng đá to nguyên khối đứng trên một con thú thiêng như thủy quái makara, trâu, sư tử, gấu được gắn vào dưới đế tượng. Chiều kích đồ sộ và phẩm chất thẩm mỹ tuyệt hảo của các tác phẩm điêu khắc ở Đồng Dương bộc lộ một kỹ thuật tạc tượng điêu luyện mà các giai đoạn nghệ thuật trước đó chưa đạt được.


Khu III bao gồm một kiến trúc lớn hình chữ nhật có bốn hàng cột lớn chống đỡ mái ngói, về phía Tây của tự viện này có một đài thờ trên đó thờ pho tượng Phật Di Lặc (?) bằng sa thạch ngồi buông thỏng hai chân trên một cái ngai cao. Những hoạt cảnh được chạm trổ quanh đài thờ này, cũng dựa theo Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh (Lalitavistara Sutra), kể các câu chuyện về cuộc đời của Phật Thích Ca trước khi ngài xuất gia là thái tử Sĩ Đạt Ta/Tất Đạt Đa (Siddhartha), bao gồm cảnh đản sinh đức Phật dưới tán cây Vô Ưu (Asoka) trong vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), hoàng hậu Ma Da (Maha Maya) tái sinh vào cõi trời Đạo Lợi (Trayastrimsa), nỗi buồn của bà kế mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahaprajapati) vì hoàng hậu Maya từ trần, cảnh thái tử xin phép vua cha Tịnh Phạn (Suddhodana) được đi dạo trong kinh thành Ka Tì La Vệ (Kaplilavastu),…(Chutiwongs 2011: 13-17).


Khu III là một tu viện lớn dành cho sinh hoạt của tu sĩ trong Phật viện bao gồm việc giảng Pháp và hành lễ trước pho tượng của đức Phật tương lai Di Lặc (?), vì vậy nó là một kiến trúc mở không có tường để tiện cho chư tăng và tín đồ lễ lạc. Về phía Đông của Khu III là một tháp – cổng chính, có kích thước lớn, mở lối vào tự viện và Phật đường của hoàng gia. Xung quanh tự viện có hai hàng bảo tháp (stupa) nằm trong tường bao.


Kiến trúc của tu viện Đồng Dương bộc lộ sự phát triển hoàn chỉnh của kỹ thuật cấu trúc đền – tháp Chăm – pa với những ảnh hưởng mới tiếp thu từ các nền nghệ thuật láng giềng, và có thể của vùng Nam Ấn. Những xu hướng mới này đã góp phần cách tân kỹ thuật xây dựng mà cụ thể là việc kết hợp thành thạo những bộ phận chịu lực bằng sa thạch với tường và mái tháp bằng gạch trong cùng một công trình. Kỹ thuật xây dựng này đã được kế thừa và phát triển toàn mỹ hơn trong các giai đoạn kiến trúc đền – tháp kế tiếp từ đầu thế kỷ 10 trở đi.


Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lê Hoàn đã đem quân tiến chiếm kinh đô Chiêm Thành vào năm 892. Sau khi Lê Hoàn rút quân về Hoa Lư, một vị quản giáp của ông tên là Lưu Kế Tông/Lưu Kỳ Tông đã trốn ở lại Chiêm Thành và tự xưng vương để cai trị vương quốc; người mà về sau Lê Hoàn đã sai một người con của mình giết chết. Lưu Kế Tông/Kỳ Tông đã thống trị vương quốc Chiêm Thành/Chăm – pa bằng một chính sách cực kỳ hà khắc, mà các nhân chứng đương thời là các thương nhân Ả Rập đã kể lại rằng:


“Abu Dulaf nói rằng: vào thời kỳ đó, tôi đang ở Ấn Độ (khoảng giữa thế kỷ thứ 10), vị vua cai trị Chămpa tên là Lagin. Nhà sư Nadjran nói với tôi rằng, trong thời kỳ này (từ 980 đến 986), vua [của ChămPa] là một vị vua xưng là Quốc vương Lukin [Lưu Kỳ], kẻ đã chiếm cứ Chămpa, cướp phá vương quốc và nô dịch tất cả thần dân.” (Ferrand 1913: 123)


Niên đại và danh xưng của vị vua và những biến cố lịch sử mà các nhà du hành Ả Rập đã ghi chép hoàn toàn phù hợp với các dữ kiện lịch sử mà sử sách Đại Việt đã nêu lên.


Chính sách cai trị hà khắc của Kỳ Tông tại vùng Amaravati cũng có thể nhìn thấy rõ qua một số lượng lớn văn bia của Mỹ Sơn, có niên đại từ thế kỷ thứ 8 đến thứ 10, bị đục xóa một cách cẩn thận dưới thời cai trị của ông (Trần Kỳ Phương 1993). Như vậy các chứng cứ lịch sử đã xác định rằng cuộc khởi binh tiến chiếm Chiêm Thành/Chămpa của Lê Hoàn năm 982, khởi đầu cho những cuộc chiến tranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành sau này, đã xảy ra tại vùng Quảng Nam ngày nay và chính Phật viện Đồng Dương đã bị tàn phá trong cuộc chiến ấy.


Dấu vết của cuộc tàn phá khủng khiếp đó còn lưu lại rất rõ tại di tích Đồng Dương và nó đã được Parmentier làm sáng tỏ khi ông tiến hành cuộc khai quật khảo cổ học tại đây vào năm 1902. Parmentier xác nhận rằng, Phật đường hoàng gia đã bị cướp phá một cách hệ thống, và đã bị phá hủy bởi một trận hỏa hoạn khổng lồ. Ông phát hiện rằng các bức tường của Phật đường đã bị cháy đổ, những lanh-tô/đà cửa bằng đá bị gãy đổ vì lửa cao, và một số pho tượng hoặc đã bị cháy đen vì lửa hoặc bị hủy hoại bằng khói. Ông cũng phát hiện vết tích của một mảnh tượng apsara – vũ nữ thiên tiên bị cháy thành than, ông cho rằng pho tượng này đã bị kéo đổ xuống từ đài thờ chính của Phật đường. Những phát hiện quan trọng khác từ trong chánh điện của Phật đường bao gồm nhiều pho tượng đá và nhiều phần của đài thờ chính bị đập phá tuy nhiên một số không có dấu vết của lửa. Mục đích của những kẻ phá hủy dường như muốn hủy diệt toàn bộ Phật viện. Parmentier đã kết luận ngay sau cuộc khai quật rằng Phật viện này đã bị bỏ phế sau khi nó hoàn toàn bị tàn phá (Parmentier 1909: 446).


Tuy nhiên, một dịp may lớn đã đến với nghệ thuật Chàm vào năm 1978 khi nhân dân trong làng Đồng Dương tình cờ phát hiện một pho tượng đồng lớn đã được chôn giấu ngay tại di tích. Việc phát hiện pho tượng này tại vị trí cách tháp – cổng Khu I khoảng 50 mét về phía Nam góp thêm phần khẳng định Phật viện Đồng Dương đã bị cướp phá trong cuộc chiến với Lê Hoàn vào năm 982 như kết quả khảo cổ học trước đây từng chứng minh. Chúng ta có thể suy luận rằng, pho tượng bằng đồng quý giá này đã được chôn giấu cẩn thận trước khi Phật đường chính bị cướp phá trong cuộc tấn công vào Đồng Dương, nó phù hợp với những gì Parmentier đã tường thuật ở trên khi ông khai quật Phật đường này.


PHO TƯƠNG BỒ TÁT BẰNG ĐỒNG PHÁT HIỆN TẠI DI TÍCH ĐỒNG DƯƠNG NĂM 1978 VÀ Ý NGHĨA TÍN NGƯỠNG CỦA NÓ


Kể từ khi được phát hiện vào năm 1978, tại di tích Đồng Dương, thuộc làng Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, pho tượng bồ – tát bằng đồng này, cho đến nay, đã được đề cập ở nhiều công trình nghiên cứu (Trần Kỳ Phương 1979, Ngô Văn Doanh 1980, Boisselier 1984, Trian Nguyen 2005, Baptiste 2005).


 


Laksmindra – Lokesvara

Tác giả cùng cụ Nguyễn Xuân Đồng, cựu quản thủ Cổ viện Chàm (tên gọi cũ của BTĐKC-ĐN) từ 1938-1965, là những người đã tham gia trực tiếp vào đoàn công tác tổ chức việc di chuyển pho tượng quý giá này từ UBND huyện Thăng Bình về Ty Văn hóa Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng ngay sau khi tượng được phát hiện vào mùa Thu năm 1978; và những năm sau đó, tác giả cùng các đồng nghiệp khác đã nhiều lần trở lại địa bàn của di tích Đồng Dương để tìm hiểu thêm về việc phát hiện pho tượng.


Pho tượng được phát hiện bởi một nhóm dân làng Đồng Dương sống cạnh khu di tích khi họ lên tháp đào bới gạch để về làm sân phơi và chuồng nuôi gia súc. Ngay sau khi phát hiện, do nghi ngờ rằng đây là một pho tượng đúc bằng vàng nên cư dân địa phương đã bẻ gãy những ngón tay của hai bàn tay và hai vật cầm tay (pháp khí) để đem đi thử vàng nhưng sau này chính quyền sở tại đã thu hồi lại được; cho nên, khi pho tượng được chuyển về Ty Văn hóa Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng thì không có hai vật cầm tay.


Theo Nhà Nghiên cứu Nguyễn Thượng Hỷ thì vật cầm tay là con ốc và hoa sen nở. hai hiện vật này vẫn được Chủ tịch xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cất giữ

Hai vật cầm tay (pháp khí) này là một đóa sen và một con ốc; đóa sen được cầm ở bàn tay phải, vẫn còn một phần cuống sen trong lòng bàn tay; còn con ốc được cầm ở bàn tay trái, vẫn còn giữ được một phần hình miệng ốc trong lòng bàn tay. Đóa sen (padma) có năm cánh, rộng 4 cm và dài 4 cm. Đây là pháp khí rất phổ biến ở các tượng bồ – tát Quán Thế Âm của nghệ thuật Chàm dù tượng có hai tay hoặc bốn tay (ở những tượng có hai tay thì tay phải cầm hoa sen còn tay trái thường cầm bình nước cam-lồ [kamandalu]). Con ốc (sankha) dài 7 cm và đường kính khoảng 10 cm, con ốc này được chế tác dựa theo mẫu hình của một loại ốc nhỏ thường thấy ven biển miền Trung Việt Nam khác với những hình ốc to lớn thường thấy trong tay của các tượng thần Visnu trong nghệ thuật Ấn Độ giáo của Chămpa cũng như Khmer và Java. Xét về mặt tiếu tượng học (iconography), hai pháp khí của tượng là đóa sen và con ốc đã chỉ ra sự hổn hợp tín ngưỡng giữa Phật giáo và Visnu giáo từng được thể hiện trên vài pho tượng bồ – tát Quán Thế Âm (hai tay và bốn tay); những ngẫu tượng như thế rất hiếm khi tìm thấy tại Nam Á cũng như Đông Nam Á. Pho tượng Laksmindra – Lokesvara này cũng là pho tượng Quán Thế Âm nữ thân duy nhất cầm đóa sen và con ốc đã xuất hiện trong nghệ thuật Đông Nam Á, trong khi, những tượng Lokesvara có pháp khí tương tự được phát hiện trong vùng đều là nam thân (Trian Nguyen 2005: 28-31).


Danh hiệu của pho tượng cũng được gọi bằng các tên khác nhau như Tara (Boisselier 1984: 319-37; Baptiste 2005: 210-11) và Laksmindra – Lokesvara (Trần Kỳ Phương 1987:73-80; Trian Nguyen 2005: 9-12). Về danh hiệu Tara, Boisselier đã dựa trên các phân tích về tiếu tượng học và phong cách học nghệ thuật của pho tượng, chẳng hạn, tư thế hai tay đưa thẳng về phía trước của pho tượng; đồng thời so sánh nó với các pho tượng Tara đã phát hiện trong vùng. Ông cũng nêu lên rằng pho tượng Tara này là một trong bốn pho tượng Tara trấn giữ bốn hướng của Phật điện chứ nó không phải là ngẫu tượng chính của Phật viện. Tuy nhiên một điều cần được lưu ý, đó là, trong văn khắc Phật giáo Chămpa không hề xuất hiện danh hiệu Tara; và khi Boisselier nghiên cứu pho tượng này vào năm 1984, ông đã không được biết nó thủ hai pháp khí là đóa sen và con ốc (Boisselier 1984: 319-37). Dựa trên nghiên cứu của Boisselier nhiều tác giả khác cũng đã định danh cho pho tượng này là Tara mặc dầu vẫn còn đặt nghi vấn (Baptiste 2005: 210-11; Guy 2011: 313-15).


Về danh hiệu Laksmindra – Lokesvara, trong một chuyên khảo về pho tượng này, Trian Nguyen đã chứng minh một cách thuyết phục rằng danh hiệu của pho tượng là Laksmindra-Lokesvara dựa trên phân tích chi tiết những yếu tố tiếu tượng học, đó là pho tượng Phật nhỏ ngồi trên tóc của Bồ tát chính là Phật Thích Ca (Sakyamuni) ngồi dưới rắn Muchalinda có bảy đầu, chứ không phải là tượng Phật A Di Đà (Amitabha) như của các hình tượng Quán Thế Âm khác. Hai pháp khí hiếm hoi là đóa sen cùng với con ốc là sự phối hợp giữa Phật giáo và Ấn Độ giáo (Hindu) của pho tượng, trùng hợp với danh hiệu của Phật viện được nêu lên trong bi ký của vua Jaya Indravarman II dựng tại Đồng Dương, là bày tỏ lòng tôn kính đến “Laksmindra – Lokesvara”. Laksmindra là phần đầu phương danh của đức vua Jaya Indravarman II: Laksmindra – Bhumisvara – Gramasvamin. Như vậy danh hiệu “Laksmindra – Lokesvara có thể được hiểu rằng Bồ tát Quán Thế Âm (Lokesvara) được thờ phượng để hộ trì cho đức vua Laksmindra – Bhumisvara – Gramasvamin” (Trian Nguyen 2005:12). Do những phẩm chất đặc biệt của pho tượng nên nó được nhận định là ngẫu tượng chính của Phật viện (vihara) Đồng Dương, được thờ trong chánh điện của Phật điện hoàng gia (Trần Kỳ Phương 1987: 73-80); pho tượng đã được dựng bởi chính tay đức vua Jaya Indravarman II và cũng được chính ngài dâng lễ thánh hóa, vào năm 875, được nhấn mạnh trong minh văn của đức vua:


“Và trong việc tạo dựng pho tượng Quán Thế Âm siêu việt và lỗi lạc này, được hiển sinh từ sự truyền thừa của chư Phật, ta sẽ cúng dường cho sự giải thoát [của chúng sinh] trên thế giới.

Ước nguyện được học hỏi về Pháp, đức vua chánh niệm trong tâm của ngài, được trải nghiệm và liễu ngộ căn nguyên của chân lý tối thượng, ngài đã dựng pho tượng Quán Thế Âm này bằng chính tay của ngài.


Mặc dù ngài đã dâng lễ thánh hóa pho tượng Quán Thế Âm, rực rỡ với tất cả pháp khí bảo vật bằng vàng, ngài không hề cảm thấy tự hào về công đức của mình. Ngài là người thuần đạo, ngài đã không thực hành ngoại giáo, những điều không được ghi chép trong kinh điển”. (Majumdar 1985: III, 74-88).


Để bàn thêm về tín ngưỡng của pho tượng, chúng ta cần chú trọng đến hai vật cầm tay rất đặc thù của Laksmindra-Lokesvara, thể hiện truyền thống Mật tông (Tantism) của Phật giáo Chămpa. Dựa theo bia ký chúng ta biết rằng Phật giáo Mật tông của Chămpa thuộc tông phái Kim Cương Thừa (Vajrayana) ca ngợi triết lý Tánh Không (Sunyo) của tông phái này (Majumdar 1985: III, 107-09). Kim Cương Thừa xuất phát từ miền Đông Ấn đã được truyền bá đến Đông Nam Á theo con đường hải thương và rất phổ biến tại vùng này từ thế kỷ 8 trở đi (Guy 2011:308-09).

Tượng Laksmindra – Lokesvara là một trong hai pho tượng Phật giáo bằng đồng lớn nhất của nghệ thuật Chămpa và là pho tượng đồng duy nhất mang những đặc trưng về thủ pháp tạo hình cũng như những đặc trưng về tiếu tượng học của nền nghệ thuật Phật giáo Chămpa mà đặc biệt là Phong cách Đồng Dương. Sự xuất hiện cùng một lúc hai pho tượng Phật giáo bằng đồng to lớn tìm thấy ngay tại di tích cũng như kiến trúc to lớn của Phật viện đã phản ảnh sự phát triển rực rỡ về kinh tế, chính trị, văn hóa của triều đại Indrapura của vương quốc ChămPa đương thời.


Xét về thủ pháp tạo hình và phong cách nghệ thuật, khi so sánh pho tượng Laksmindra – Lokesvara với pho tượng Phật đứng, hiện trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh, chúng ta thấy có sự khác biệt lớn. Pho tượng Phật mang phong cách nghệ thuật Nam Ấn, gọi là trường phái Anuradhapura, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 8-9; và được phổ biến rộng rãi ở toàn vùng Nam Ấn cũng như ở Đông Nam Á (Zéphir 2005: 207-09); có thể pho tượng Phật này đã được du nhập vào Chămpa trong thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo ở Đông Nam Á dưới ảnh hưởng của vương quốc Sri-Vijaya (Indonesia) khoảng thế kỷ 8 (Guy 2011: 306-09). Trái lại, chúng ta có thể thấy rõ pho tượng Laksmindra – Lokesvara mang hoàn toàn yếu tố nghệ thuật đặc thù của Chămpa và được chế tác tại bản xứ khi so sánh nó với các pho tượng tròn bằng sa thạch được chế tác cùng một thời kỳ, chẳng hạn, pho tượng bồ-tát Prajnaparamita (Trí Độ Bát Nhã) và Lokesvara (Đại Hữu, Quảng Bình; sưu tập BTĐKC-ĐN), hoặc nữ thần Durga Mahisarura-mardini (Nữ thần Durga giết Quỷ đầu trâu) (Bích La, Quảng Trị; sưu tập Bảo tàng Lyon, Pháp) bằng sa thạch có mẫu hình tương tự được chế tác đương thời ngay tại ChămPa (Boisselier 1963: 130-31; Baptiste 2005: 234-35).


Tuy nhiên, xét về kỹ thuật đúc tượng đồng thì pho tượng Laksmindra – Lokesvara vẫn còn nhiều nghi vấn cần được làm sáng tỏ. Trước hết, để đúc một pho tượng đồng có kích thước lớn đòi hỏi phải có truyền thống kỹ thuật lâu dài và nguyên liệu đồng tốt; bởi vì miền Trung Việt Nam không có mỏ quặng đồng, hầu hết nguyên liệu đồng đều được nhập khẩu mà chúng ta có thể biết rõ qua các ghi chép lịch sử về việc nhập khẩu nguyên liệu đồng từ Trung Hoa và Nhật Bản đến miền Trung Việt Nam (Hội An) trong thế kỷ 17. Hơn nữa, gần đây các nhà lịch sử nghệ thuật Đông Nam Á cũng chỉ ra rằng, hầu hết các pho tượng Phật giáo Đại thừa (Mahayana), bao gồm tượng Phật và tượng bồ-tát (Quán Thế Âm/Avalokitesvara và Di Lặc/Maitreya) bằng đồng, có kích thước vừa và nhỏ, niên đại từ thế kỷ thứ 8-10, đều được chế tác tại các vương quốc Nam Chiếu (Nan Chao) hoặc Đại Lý (Dali) ở vùng Vân Nam và được xuất khẩu sang các vương quốc Phật giáo ở Đông Nam Á đương thời (Guy 2011: 318-19; Chutiwongs 2005: 68-74). Vì thế, chúng tôi muốn nêu một giả thuyết là, có khả năng, pho tượng Laksmindra – Lokesvara đã được chế tác tại Chămpa nhưng bởi các kỹ thuật viên ngoại quốc cùng với nguyên liệu đồng được nhập khẩu (?!). Sở dĩ chúng tôi đặt vấn đề này là để nêu lên rằng, đương thời, vương quốc Chămpa đã có mối quan hệ rộng rãi với các vương quốc khác ở trong vùng tây – bắc bán đảo Đông Dương và ở phía nam Trung Hoa trên nhiều lãnh vực về kinh tế và văn hóa. Mối quan hệ này được kết nối bằng những con đường bộ qua các trung tâm kinh tế – chính trị được gọi là mường và/hoặc qua các bản làng của các sắc tộc thiểu số hiện nay vẫn còn sinh sống ở miền Hạ Lào và Tây Nguyên Việt Nam (Trần Kỳ Phương và cộng sự 2012).


Dựa theo bia ký và các tác phẩm nghệ thuật, vương triều Phật giáo Indrapura đã thống lĩnh lãnh thổ Bắc Chămpa từ vùng Quảng Bình cho đến Quảng Ngãi và Kon Tum hiện nay. Các vị vua triều Indrapura đã xưng là maharajadhiraja (đại vương của [các] vua) (Majumdar 1985: III, 87). Sự thống nhất về phong cách nghệ thuật của một số lớn tượng đồng tìm thấy rải rác trong khắp vương quốc; cũng như một số lượng lớn tượng sa thạch có kích thước to lớn của nền điêu khắc cùng với sự cải tiến và hoàn thiện kỹ thuật cấu trúc trong nền kiến trúc đền – tháp của Phật viện Đồng Dương là những chứng cứ cho sự phát triển toàn diện và đã đạt đến đỉnh cao về kinh tế và văn hóa của vương triều Indrapura. Sử liệu Trung Hoa cũng thường xuyên đề cập đến vương quốc ChămPa trong thời kỳ này với danh hiệu Hoàn Vương (Huan Wang) và cho biết những mối giao thương mật thiết giữa Chămpa với các triều đại Trung Hoa (Momoki 2011: 120-37).


Về vị trí bài trí pho tượng tại Phật đường hoàng gia của Phật viện cũng được đề cập với nhiều giả thiết là, pho tượng được đặt trên một bệ thờ vuông bằng sa thạch rồi bài trí trên đài thờ lớn trong chánh điện của Phật đường (Ngô Văn Doanh 1980: 195-96; Trian Nguyen 2005: hình 14). Tuy nhiên, nhân dịp trưng bày lại Phòng Đồng Dương vào năm 2011, theo kiểm tra của chính tác giả và của ban quản lý BTĐKC-ĐN, thì, bề mặt của cái bệ vuông này hoàn toàn bằng phẳng, không có vết lỗ đục để giữ chốt của đế tượng. Trong nghệ thuật Chàm, thông thường, những pho tượng thần chủ bằng hợp kim thờ trong chánh điện đều được gắn vào một tòa sen ở dưới chân tượng (gắn liền phần chốt đế) trước khi được đặt lên bệ thờ. (Có thể so sánh với pho tượng Phật bằng đồng đứng trên tòa sen của Phật viện Đồng Dương đã được nêu trên. Như vậy, có thể suy luận rằng pho tượng Laksmindra – Lokesvara đã được đặt trên một tòa sen lớn cũng bằng hợp kim trước khi đặt lên bệ thờ vuông bằng sa thạch, như đề cập ở trên, rồi được bài trí lên trên đài thờ lớn (ký hiệu: 22.24a, BTĐKC-ĐN) trong chánh điện của Phật đường hoàng gia.


Về y phục và đồ trang sức của pho tựơng, chúng ta cũng có thể biết rằng tượng được khoác thêm trang phục gồm áo và sa-rông bằng tơ lụa/vải và các đồ trang sức quý như miễn trên tóc, hoa tai, vòng ngực, vòng cánh tay, chân, trong các dịp tế lễ theo nghi thức Phật giáo Mật tông được tổ chức tùy theo từng thời điểm hằng năm nhằm phục vụ cho hoàng gia của triều đại Indrapura. 

Pho tượng Laksmindra – Lokesvara là một chứng cứ tốt để tìm hiểu đặc tính của nền nghệ thuật Phật giáo Chămpa đương thời bao gồm giáo pháp, tín ngưỡng, phương pháp thực hành; nêu lên những đóng góp về tính chất đặc thù của tiếu tượng học Phật giáo và phẩm chất thẩm mỹ Chămpa vào nghệ thuật Đông Nam Á đương thời. Nó cũng bộc lộ mối giao lưu rộng rãi về kỹ thuật chế tác tượng đồng ở trong vùng cũng như góp phần khẳng định vai trò nổi bật của vương quốc Chămpa trên con đường giao thương trên biển và trên bộ.


Mặc dù di tích Phật viện Đồng Dương đã bị tàn phá nặng nề, chỉ còn lại đôi chút vết tích của một công trình từng là cơ sở kiến trúc Phật giáo đồ sộ nhất của vùng Đông Nam Á, tuy nhiên dưới lòng đất của phế tích này hẳn phải còn ẩn chứa nhiều tác phẩm điêu khắc quan trọng, mà, việc phát hiện pho tượng đồng Laksmindra – Lokesvara là một bằng chứng sinh động. Trước kia, Parmentier đã thừa nhận rằng, do những hạn chế về thời gian nên ông và các đồng nghiệp phải kết thúc cuộc khai quật tại Đồng Dương vào tháng 11 năm 1902, trước khi mùa mưa đến; vì vậy, ông đã không thể ghi chép được tất cả các công trình đã tạo nên khu đền – tháp quan trọng này, cho nên hiện nay chúng ta chỉ có thể biết được sơ lược về Phật viện Đồng Dương (Parmentier 1909: 439).


Trong tương lai, khi hội đủ điều kiện, chúng ta có thể tiến hành một cuộc khai quật khảo cổ học toàn diện và quy mô trên phạm vi di tích đã được xác lập hiện nay. Cuộc khai quật đó chắc chắn sẽ phát lộ phần chân tháp của các Khu I, Khu II và Khu III, và chúng sẽ được bảo tồn để giúp cho các học giả và du khách hình dung được tầm vóc kỳ vĩ của di tích nổi tiếng này. Ngoài ra, các tác phẩm điêu khắc bị vùi lấp chắc chắn sẽ được phát hiện trong các cuộc khai quật tương lai, chúng sẽ bổ sung cho những bộ sưu tập phong phú của nghệ thuật Đồng Dương, một phần hiện được trưng bày tại các bảo tàng lớn trong nước và quốc tế. Những phát hiện mới đó sẽ góp phần nới rộng giới hạn hiểu biết hiện nay về một nền nghệ thuật độc đáo và phong phú nhất của vương quốc Chiêm Thành/Chămpa trong mối liên hệ mật thiết với các vương quốc đương thời ở Đông Nam Á. Và, hơn nữa, dựa trên kết quả của những cuộc khai quật trong tương lai, chúng ta có khả năng phục dựng Phật viện này trở thành một nơi hành hương lý tưởng cho các Phật tử vì đây là một trong vài Phật viện được thành lập sớm nhất của Phật giáo Việt Nam.


🌱Teresa Pham

19/2/2024














COMICCON MONTREAL

 🌷 🌷 🌷 🌷 🌷 🌷 🌷