ADVERTISEMENT Home Xưa Nguồn gốc tên gọi Đà Lạt (Đạ Lạc) – Xuất phát từ tên gọi của một bộ tộc người bản xứ 2024/04/06 Địa danh Đà Lạt được bắt nguồn từ chữ Đạ Lạch (hoặc Đạ Lạc, Đạ Lạt). Thực ra, Lạch, Lạc, hay Lạt, Lát… đều mang chung một nghĩa, là tên của một nhóm cư dân nhỏ người dân tộc K’ho, sống lâu đời trên cao nguyên Lang Biang. “Lạch” theo tiếng địa phương có nghĩa là “rừng thưa” dùng để chỉ vùng rừng thông, đồi trọc từ dãy Lang Biang trải dài xuống Tây Nam, bao gồm cả thành phố Đà Lạt ngày nay. Nếu bạn là người yêu thích nhạc xưa, hãy theo dõi kênh YouTube này để nghe đọc các bài cảm nhận về âm nhạc (phân tích ý nghĩa, hoàn cảnh sáng tác, tiểu sử ca nhạc sĩ): LINK YOUTUBE < Click Theo ngôn ngữ người Thượng, chữ Đạ (hoặc Dak) trong Đạ Lạch có nghĩa là suối, nước. Ở cao nguyên Lang Biang có 2 con sông lớn nhất cùng chảy ra sông Đồng Nai là Đa Nhim (Đạ Nhim) và Đa Dung, với chữ Đa mang nghĩa liên quan tới nước. Ngoài ra, các tên gọi Daklak hay Dak Nông và rất nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ Dak ở Tây Nguyên đều mang nghĩa là hồ nước (Daklak là Hồ Lak). Như vậy, Đạ Lạch, hay Đạ Lạc, đều mang nghĩa là một con suối của người Lạch, đó chính là con sông Cam Ly (suối Cam Ly) uốn lượn quanh Đà Lạt, là nguồn nước chính cho sinh hoạt của người bản địa thời xa xưa. Sông Cam Ly khởi nguồn từ huyện Lạc Dương, thác Cam Ly chảy qua Đà Lạt theo hướng Bắc – Nam, trong đó đoạn từ khoảng Hồ Than Thở tới thác Cam Ly ngày nay, được gọi là Đạ Lạch. Xem bài khác Phong cảnh Đà Lạt xưa tuyệt đẹp qua bộ sưu tập ảnh nghệ thuật Cảnh quan của “vùng bất kiến tạo” ở Đà Lạt nghĩa là gì? Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí Revue Indochine tháng 4 năm 1944, công sứ Cunhac, một trong những người tham gia xây dựng thành phố từ ngày đầu, đã nói: “Cho mãi tới những năm sau này, khung cảnh ban sơ vẫn không có gì thay đổi. Ở tại chỗ của cái hồ nước trước đó, con suối nhỏ của bộ lạc người Lát đã chảy qua và người ta đã gọi suối này là Đà Lạt”. Vào thời kỳ đầu, các bản đồ cũng như sách báo thường chỉ nhắc đến địa danh Dankia hay Lang Biang. Nhưng sau khi Đà Lạt được chọn làm nơi nghỉ dưỡng thay vì Dankia, và đặc biệt từ khi nơi đây trở thành một thành phố, địa danh Đà Lạt mới xuất hiện thường xuyên. Trong các bản đồ được vẽ khi khảo sát địa hình, vùng đất này chỉ được ghi chung chung là Lang Bian, như trong bản vẽ năm 1898 sau đây. Chỉ vài năm sau đó, như công sứ Cunhac nói bên trên, sau khi toàn quyền Doumer quyết định chọn Đà Lạt làm nơi nghỉ dương thay vì chọn Dankia, thì cái tên “dòng nước của người Lat” (Đà Lạt) mới được sử dụng thường xuyên. Vào năm 1901, Prosper Odend’hal (thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ) đã gọi Đà Lạt là “thành phố triển vọng”, nhưng nó mang tính tinh thần hơn là trở thành thực tế. Nói như vậy là vì vào năm 1901 Đà Lạt mới chỉ có một nhúm nhà văn phòng, công sở. Nhắc lại để thấy rằng dường như tên gọi Đà Lạt đã bắt đầu được gọi vào thời điểm này, khi nó chỉ mới là triển vọng ban đầu. Năm 1906, trong bản đồ án quy hoạch đầu tiên Đà Lạt của thị trưởng Champoury, có ghi rõ tên gọi Dalat, như trong hình bên trên. Nhưng tới năm 1918, trong bài Lâm Viên Hành Trình Nhật Ký của ông Đại thần triều đình Huế là Đoàn Đình Duyệt, nhân chuyến thay mặt vua Khải Định đi công cán lên Lâm Viên năm 1917, ông đã gọi Đà Lạt bằng cái tên Đa lạc. Điều đó cho thấy thời điểm đó người ta vẫn chưa thống nhất về tên gọi, ít nhất là có sự khác biệt giữa người Pháp và người An Nam. Từ chữ Đạ và Lát trong tiếng Thượng, người Pháp ghi không dấu thành Da Lat trong các văn bản hành chánh hoặc báo chí, và được người Việt đọc ngược trở lại thành Đà Lạt. Đó chính là nguồn gốc của tên gọi này. Những người Pháp làm nhiệm vụ kiến thiết Đà Lạt còn sáng tạo một câu cách ngôn khéo léo bằng tiếng La Tinh với các chữ cái đầu tạo thành chữ DALAT, đó là: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem, có nghĩa Cho người này nguồn vui, cho người khác sự mát mẻ. Tác giả André Morval đã viết câu cách ngôn chiết tự này ở đầu một bài báo nhan đề Dalat: Cité de la Jeunesse với nội dung: “Những người khai sinh ra nơi nghỉ mát trên miền núi danh tiếng của chúng ta đã xác định một cách rất hợp lý những nét hấp dẫn và những đặc tính tốt bằng một câu cách ngôn ghép chữ đầu rất khéo léo để liền theo huy hiệu thành phố”. Biểu tượng của Đà Lạt (thị huy) được gắn trên chợ Đà Lạt năm 1937 (nay là Hội trường Hòa Bình) Năm 1937, khi xây dựng chợ Đà Lạt mới thay cho ngôi chợ cũ bằng gỗ bị cháy, người ta đã đề dòng chữ Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem trên tường đầu hồi của công trình, phía trên là huy hiệu thành phố hình tròn, tạc hình một đôi thanh niên nam nữ người dân tộc cùng với hình núi đồi nhấp nhô và hình hiệu một con cọp. Với khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và những di sản kiến trúc Pháp phong phú, Đà Lạt còn được gọi bằng nhiều cái tên khác như “Thành phố mù sương”, “Thành phố ngàn thông”, “Thành phố ngàn hoa”, “Xứ hoa Anh Đào” hay “Tiểu Paris”… Như vậy, tên gọi Đà Lạt có xuất xứ từ tên gọi người bản địa đầu tiên là người Lạt/Lạch. Vậy số phận của họ ra sao sau khi người Pháp khai phá vùng đất của họ trở thành một trạm nghỉ dưỡng vào những năm cuối thế kỷ 19? Trước thời điểm đó, xung quanh con suối Cam Ly (Đạ Lạch) không chỉ có người Lạch (người Pháp ghi là Lát) sinh sống, mà có thêm tộc người Chil và Srê đều là dân tộc K’Ho. (Chuyện tình làm nên truyền thuyết núi Lang Biang thuộc 2 tộc người này, chàng Lang người Lạch, còn nàng Biang người Srê). Hai bộ tộc Lạch, Chil có quan hệ gần gũi về chủng tộc và văn hóa nên họ có những tập tục giống nhau. Về lịch sử, họ có một vị anh hùng là tù trưởng Yagut đã từng lãnh đạo các bộ tộc chống ngoại xâm. Trước người Pháp vài chục năm, danh sĩ Nguyễn Thông đã thám hiểm cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang) và đã gặp bộ tộc Lạch mà ông gọi là người Lạc. Tới năm 1893, Yersin mới tới Lang Biang và tiếp xúc với bộ tộc Lạch, ông đã phiên âm tên bộ tộc này thành M’lates. Thực ra tộc người này tự xưng là Lat hoặc Lạch, theo ngôn ngữ của dân bản địa có nghĩa là rừng thưa, người Lat thường chọn lập thành những “bon” (buôn làng). Sau khi người Pháp chiếm Lang Biang và vùng đất họ định cư từ lâu đời là xung quanh suối Cam Ly, thung lũng ngày nay là hồ Xuân Hương, người Lạch phải dời đến buôn Rơhàng Kròc (người Pháp phiên âm là Ankroet). Sau đó, khi người Pháp xây dựng đập Ankroet để làm thủy điện năm 1942, người Lạch lại phải dời đến buôn Đờng Tiang Đe ở trung tâm huyện Lạc Dương hiện nay. Đập tràn Ankroet năm 1953 Theo truyền thuyết và trong ký ức của một số người Lat, người Champa có một thời lên Lang Biang và mở những cuộc tấn công lấn chiếm đất đai ở đây. Dưới chân đèo Prenn từng là chiến trường khốc liệt Chăm và người Lat, người Chil. Người Chăm phá hủy nhiều công trình của người Lat, Chil nhưng chưa bao giờ đến được trung tâm Đà Lạt ngày nay. Đèo Prenn là ranh giới Chăm, Lat, Chil. Nhưng người Chăm bằng một con đường khác đã đến được Pak-Krông-Knô, vượt địa phận Lâm Đồng lên đến Daklak. Người Lat đã giữ được quê hương của họ (vùng quanh hồ Xuân Hương). Cho đến sau khi Toàn quyền Doumer đi thị sát Đà Lạt (1899), Đà Lạt được dần dần xây dựng thành thành phố nghỉ dưỡng cho người Pháp, người Lat mới bỏ quê hương yêu dấu nhất đi xa dần “cố quốc”. Xã hội Lat thời điểm đó gần với xã hội nguyên thủy, thành phần xã hội chưa hình thành rõ nét. Người Lat sống với nhau trong quan hệ bình đẳng, chưa có ý thức rõ ràng về giai cấp, về giàu nghèo, không có giai cấp thông trị, bị trị. Các Knan bơn (chủ làng) có quyền lợi về tình thần hơn là vật chất. Họ có trách nhiệm theo như trong truyền thống tín ngưỡng được Yàng (Thần) đồng ý quản lý dòng họ, buôn bản, sau khi đã được toàn dân trong buôn bản lựa chọn. Kuan bon thực chất là những người có kinh nghiệm lao động giỏi, có trình độ văn hóa cao hơn những người khác được các già làng phục, kính mến, vì đức cũng như tài. Kuan bon cũng lao động để sinh sống, chứ không phải kẻ “ngồi mát ăn bát vàng” hoặc những tay “lý luận, ba hoa”. Vì vậy Kuan bon thực sự có uy tín, ít có trường hợp bị chê khinh và bị lật đổ. Các Pôdâu, Pôkrù (thầy phù thủy, thầy cúng) là những thầy thuốc chữa bệnh cho dân làng, thầy giáo của buôn bản có trách nhiệm về văn hóa của bộ tộc. Cũng như các thành viên khác, Pôdâu, Pôkrù đều phải lao động để sinh sống. Việc chữa bệnh, “lên lớp giảng đạo lý” chỉ là những trường hợp quan yếu, đặc biệt, Pôdâu, Pôkrù thường hiểu nhiều các phong tục tập quán truyền thống của dân làng. Họ là những người có kinh nghiệm nương rẫy và thời tiết. Do đó họ được mời phân xử các vụ tranh chấp, kiện cáo, được cùng Kuan bon quyết định việc dời chỗ ở, di dân, việc cử hành hội hè cúng tế của toàn “bon”. Kuan bon, Pôdâu, Pokrù, Pôluu (chủ nhà) hợp thành một bộ máy quản lý buôn làng, đơn giản nhưng bền chặt xã hội Lat qua bao đời trước khi người Pháp xâm chiếm vùng Tây Nguyên. Trong xã hội Lat chỉ có một ít người bị coi thường. Đó là những “để” (đầy tớ). Các “đe” xuất thân từ các tù binh sau các cuộc chiến tranh giành đất của các dòng họ, hoặc con cháu của những người bị nghi là “Ma-lai”. Tuy nhiên các “để” vẫn được sống trong các nhà dài, được chia phần ăn giống như bất cử thành viên nào, “đe” cũng có thể kiếm một mảnh đất nào đó để canh tác trồng trọt kiếm thêm “cái ăn”. Trong cộng đồng người Lat, mọi người bình đẳng, dân chủ từ việc chia đất, lao động cho đến việc quyết định phân ly hay quần tụ của bộ tộc, thương lượng hay chiến tranh với dòng họ, bộ tộc khác. Nói chung trong xã hội ấy con người sống thoải mái, dễ dãi tự do nếu chinh phục được thiên nhiên. Cuộc sống trong buôn bản ấy dễ chịu vì tình thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Người Lat hiện còn theo chế độ mẫu hệ. Người con gái đến tuổi lập gia đình thì “bắt chồng”, con trai được bắt về cư trú nhà vợ. Cuộc sống, sinh hoạt của người chồng tùy thuộc vào vợ. Vì vậy có câu tục ngữ : Um mơ h’ru chil cau Um mơ vau chil n’dĩ Dịch là: Ở với chị thì làm người Ở với vợ thì làm tớ Câu tục ngữ trên cho thấy vai trò quan trọng của phụ nữ Lat: Người mẹ, người chị trong gia đình là người tổ chức sắp xếp việc ăn ở, nuôi dạy con cái trong khi người đàn ông, người chồng chủ yếu lao động kiếm cái ăn, cái mặc. Vì thế người đàn ông là người ở ngoài xã hội, buôn làng. Người phụ nữ là nội tướng, đàn ông là những Kuan bon, Pôdâu, Pôkrù… Tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng trong xã hội người Lat là lao động và nết na. Yêu đương tự do không phân biệt tầng lớp giàu nghèo. Sự thành vợ, thành chồng phần nhiều do kết quả của tình yêu nam nữ. Có một vài cấm ky về kết hôn như sau: các dòng họ Buôntô-Dayu, Lienyang-Lienghot, K’Sar-Cil… không được cưới nhau. Theo các già làng Lat giải thích, các dòng họ ấy xưa vốn cùng một gốc. Việc kết hôn hai họ cùng một huyết tộc sẽ sinh ra quái thai, trẻ con sẽ chết yểu… Ngày nay sự cấm ky trên có phần bớt khe khắt. Người con gái Buôntô, họ K’ Star có thể bắt “chồng” chàng trai họ Dayu, họ Cil được miễn là nàng và chàng thành thật thương nhau. Người Lat có truyền thống tôn trọng người già. Thức ăn ngon, váy khố đẹp đều dành cho người già. Có cha mẹ từ 60 trở lên, con cái lấy đó làm một điều hãnh diện, thường làm lễ mừng thọ. Khi cha mẹ đã mất, con cái làm lễ đền ơn nếu trong thời gian cha mẹ sống nhưng vì nghèo chưa làm lễ mừng thọ được. Các trường hợp ly dị, ly hôn, ngoại tình, thông dâm ít xảy ra trong bộ tộc người Lat. Nhưng ai phạm các tội trên phải chịu các hình phạt rất nặng, và bị dân bon khinh rẻ. Các tội “bội”, lường gạt, ăn cắp cũng bị các hình phạt tương tự. Tội “loạn luân” bị trừng phạt thật nặng, sau hình phạt phạm nhân còn bị đối xử tàn tệ, bị coi khinh như heo, không được ngồi ăn chung với mọi người, mà phải ăn một mình trong máng heo. Người Lat/Lạch hiện nay vẫn sống trên mảnh đất cũ của tổ tiên mình ngày nay đang bị thu hẹp dần vì những áp lực của sự phát triển xã hội. Dân số tăng lên ít nhiều, từ 800 người (1940) lên 2.700 người hiện nay, tập trung chính là ở Xã Lát (Lạc Dương): 2.411 người (387 hộ). Số còn lại ở rải rác nhiều nơi, nhưng tập trung nhất vẫn là Đà Lạt, Lâm Hà, Đức Trọng và Đơn Dương (khoảng 300 người). Trong suốt thời kỳ lịch sử, do tiếp xúc với nền văn hóa phát triển hơn, đặc biệt là văn minh phương Tây trước đây và người Kinh sau này, người Lạch đã bỏ nhiều hủ tục lỗi thời, cởi mở hơn trong sự tiếp thu các nền văn hóa mới. Điều đáng tiếc là một nền văn hóa cổ truyền phong phú và hấp dẫn, nhiều truyền thống nhân văn quí báu cũng chính vì thế mà bị lãng quên dần và thậm chí bị coi là “quá khứ lạc hậu”. Đông Kha Share 0 Xem bài khác XƯA Phong cảnh Đà Lạt xưa tuyệt đẹp qua bộ sưu tập ảnh nghệ thuật Mời các các bạn xem lại bộ sưu tập ảnh nghệ thuật tuyệt đẹp của Đà Lạt xưa của nhiếp... APRIL 9, 2024 XƯA Cảnh quan của “vùng bất kiến tạo” ở Đà Lạt nghĩa là gì? Gần đây, trên báo chí, bạn đọc có thể đã đọc được thông tin liên quan tới "không gian bất... APRIL 9, 2024 XƯA Hình ảnh hiếm Đà Lạt thời thập niên 1990 Mời các bạn xem lại bộ sưu tập hình ảnh chụp Đà Lạt vào những năm đầu thập niên 1990,... APRIL 8, 2024 XƯA Hình ảnh tuyệt đẹp của người Sài Gòn xưa trên đường phố trước 1975 Mời các bạn xem lại những hình ảnh người Sài Gòn xưa các nẻo đường thân thuộc trước 1975. Nhìn... APRIL 7, 2024 XƯA Sơ lược lịch sử xây dựng Đà Lạt qua bài báo năm 1941 Ngày nay, Đà Lạt là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là những... APRIL 6, 2024 XƯA Lịch sử hình thành và bộ ảnh xưa tuyệt đẹp của khu Hòa Bình ở trung tâm Đà Lạt Nếu nói về vị trí trung tâm của toàn thành phố Đà Lạt hiện nay, người ta sẽ nghĩ tới... APRIL 5, 2024 Tags anh bằng anh việt thu châu kỳ chế linh duy khánh giao tiên hoài linh hoàng nguyên hoàng oanh hoàng thi thơ hoàng trang huỳnh anh khánh ly lam phương lê dinh lê minh bằng lê thương lê uyên phương lệ thu minh kỳ mạnh phát nguyễn tất nhiên nguyễn văn đông ngân giang ngô thụy miên ngọc lan như quỳnh phạm duy phạm đình chương saigon collection song ngọc thanh sơn thanh thúy thái thanh tiểu sử ca sĩ tiểu sử nhạc sĩ trúc phương trường sa trầm tử thiêng trần thiện thanh trịnh công sơn từ công phụng văn cao vũ thành an y vân Home Xưa Sơ lược lịch sử xây dựng Đà Lạt qua bài báo năm 1941 2024/04/06 Ngày nay, Đà Lạt là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là những người yêu mến cảnh sắc, không khí của Đà Lạt. Nếu bạn là người yêu thích nhạc xưa, hãy theo dõi kênh YouTube này để nghe đọc các bài cảm nhận về âm nhạc (phân tích ý nghĩa, hoàn cảnh sáng tác, tiểu sử ca nhạc sĩ): LINK YOUTUBE < Click Lịch sử hình thành của Đà Lạt có nhiều điều thú vị, điều gì đã hình thành nên một thành phố du lịch Đà Lạt nổi tiếng từ gần 100 năm trước? Bài báo được viết hơn 80 năm trước sau đây sẽ phần nào trả lời cho câu hỏi đó. Ngay từ năm 1941, tác giả bài viết này đã viết như sau: Liệu Đà Lạt có thể trở thành một trung tâm hành chính hay không? Điều này chỉ có Chúa mới biết! Nhưng nếu điều đó trở thành sự thật thì quả là tai hại. Tương tự như câu chuyện đã xảy ra với Hà Nội. Hà Nội đã mất rất nhiều và Đà Lạt cũng không ngoại lệ, sẽ chật ních người, sẽ ngổn ngang công trường xây dựng và tấp nập xe hơi. Đà Lạt sẽ mang dáng dấp của những thành phố khác, sẽ mất đi thế mạnh độc đáo, mất đi chức năng ban đầu của mình là một thành phố nghỉ dưỡng Bên phải tôi là bình lay-ơn lộng lẫy, bên trái là những bông cẩm chướng tuyệt đẹp và ngát hương hệt như loài cẩm chướng ở Pháp. Bên trong chiếc bình cổ là nhánh lan đất màu vàng mà tôi kiếm được từ trong rừng. Trước mặt tôi, sáu nhánh hoa mimosa nhỏ tỏa hương thơm ngát theo làn gió len vào qua khung cửa. Ba bông hồng lớn màu xanh dịu đặt trước lò sưởi chờ được cắm vào bình pha lê. Xem bài khác Phong cảnh Đà Lạt xưa tuyệt đẹp qua bộ sưu tập ảnh nghệ thuật Cảnh quan của “vùng bất kiến tạo” ở Đà Lạt nghĩa là gì? Đó là Đà Lạt! Đà Lạt trước hết là xứ sở các loài hoa. Ở xứ này, ngay cả những loài hoa bình dị, thường gặp nhất cũng trở nên sặc sỡ lạ kỳ. Hoa Xôn (Salvia farinacea) ở đây đậm sắc hơn hoa Xôn Hà Nội, ngay cả với giống tía tô, ở Đà Lạt cũng xanh tốt hơn nơi khác. Không có ngôi nhà nào là không trồng đầy hoa xung quanh. Người ta làm hàng rào bằng hoa hồng, trong sân thì đầy hoa chân bê và hoa huệ. Còn hoa giấy và các loài dây leo màu cá vàng thì leo lên tận ban công. Ngay cả những túp lều của người dân tộc thiểu số cũng vui mắt với những bụi hoa chuối và hoa dong riềng. Trong các vườn rau, những bông hoa trắng của cây cơm cháy nhẹ nhàng đung đưa trong gió. Đà Lạt dường như không thiếu loại hoa nào, hằng năm có tới 90 tấn hoa được chuyển về Sài Gòn. Đà Lạt cũng được mệnh danh là xứ sở của ngàn thông. Đi dạo dưới những cánh rừng thông là một trải nghiệm khoan khoái tuyệt vời, không khí trong lành thoảng mùi nhựa thông căng tràn trong lồng ngực. Không một bụi rậm, không dây leo rối rắm, cũng chẳng có những túp lều lụp xụp. Cỏ cao lấp xấp vừa tầm, xen lẫn những đóa hoa nhỏ đủ màu sắc vàng, xanh, tím hoa cà,… vươn lên khoe dáng, chẳng bận làm vướng chân người thưởng ngoạn hay che khuất tầm nhìn của ai. Những thân cây cao vút cũng khiến ta hứng thú. Phóng tầm mắt xuyên qua những hàng cây là những cánh rừng thông bạt ngàn, xa tít tắp, chỉ còn thấy những mảng màu xanh dương và xanh lục trải rộng tới tận chân trời. Nhìn từ trên cao, Đà Lạt hoàn toàn không phải là một thành phố mà là một thảo nguyên nhỏ uốn lượn trùng điệp, với thứ cỏ khổng lồ mang tên thông trải rộng khắp chốn, và còn có một thứ hoa đỏ như son điểm xuyết cho thảo nguyên là những mái nhà ngói đỏ mới xây. Các nhà khoa học, những người không biết mình đã nực cười như thế nào khi nói rằng giống thông Langbian đẹp đẽ và phong phú chính là cô gái đẹp mang đến thảm họa và nghèo đói. Nói một cách chính xác, cao nguyên đã bị đốt cháy đến độ đất đai trở nên khô cằn, chỉ những giống cây như thông mới thích nghi và phát triển được. Trong khi nhiều loài cây khác phải chờ đến khi đất đai tốt hơn mới mọc lên được thì thông lại chính là loài cây giúp hồi sinh đất. Cho đến khi đất đai màu mỡ trở lại, những giống cây vốn háu ăn, mau lớn, thường lấn át loài thông vốn phát triển chậm chạp, thì lúc đó thông đã đủ vững chãi để tự bảo vệ mình. Một câu chuyện thú vị khác về một nhà bác học nổi tiếng và khá uy tín hiện nay là bác sĩ Yersin, người đã phát hiện ra Đà Lạt và giới thiệu nó với mọi người. Khoảng năm 1890, Yersin trong vai trò một nhà thám hiểm khám phá cao nguyên và là một “nhân viên trắc địa… bất đắc dĩ” đã bị người bản xứ đuổi bắn. Năm 1893, Yersin tiếp tục đội mưa xuyên rừng nhằm chinh phục đỉnh Lang Bian, khi trở về, ông bị một tên cướp theo dõi và bị bắn trọng thương ở chân. Chuyến thám hiểm này đã được chính Yersin kể lại, cả việc ông đã chăm sóc một con voi hoang dã. Câu chuyện về chuyến thám hiểm Đà Lạt của bác sĩ Yersin được chú ý đến ngay lập tức. Ý tưởng về việc thiết lập một khu điều dưỡng trên cao nguyên LangBian đã được vạch ra và tiến hành một cách chậm chạp nhưng kiên trì. Năm 1897, chính quyền phái hai đoàn khảo sát nhằm mở đường lên LangBian, xuất phát từ Phan Rang, một đoàn có nhiệm vụ nghiên cứu phương án xây dựng tuyến đường sắt (đoàn Thouard), đoàn còn lại nghiên cứu phương án mở tuyến đường bộ (đoàn Garnier). Năm 1899, đích thân toàn quyền Paul Doumer cưỡi ngựa lên Lang Bian để khảo sát. Hai năm sau đó, đoàn quân của chỉ huy Guynet đã bắt tay vào xây dựng những ngôi nhà gỗ đầu tiên ở Đà Lạt. Tiếc rằng, việc toàn quyền Doumer hết nhiệm kỳ và trở về Pháp vào năm 1902 đã làm trì hoãn mọi kế hoạch trước đó. LangBian tiếp tục rơi vào quên lãng trong suốt 10 năm tiếp theo. Mãi đến tận năm 1912, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut mới phê duyệt ngân sách để làm đường và xây một vài ngôi nhà cho Đà Lạt. Con đường xe ô tô chạy được từ Sông Pha [Krongpha] tới Đà Lạt qua Đèo Ngoạn Mục [Bellevue], thung lũng Đa Nhim [Danhim] và thung lũng Phi Nôn [Fimnon] đã thành hình. Đoạn cuối của con đường này (phía Đà Lạt) ngày nay (1941) đã không còn được dùng nữa vì nó đã nối vào đường từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Năm 1915, dòng người Châu Âu đầu tiên tới Đà Lạt. Năm 1917, toàn quyền Roume khánh thành Langbian Palace [nay là Đà Lạt Palace], sự kiện này được coi như dấu mốc khánh thành khu nghỉ mát Đà Lạt. Trước đó, từ năm 1897 – 1898, người ta đã xây dựng trạm thử nghiệm nông nghiệp Dangkia (Suối Vàng), nhưng dự án này thất bại và trạm bị bán rẻ lại sau 10 năm vào năm 1907. Giai đoạn từ năm 1898 – 1900, các đoàn khảo sát Odhéra, Garnier, Bernard đã lên Đà Lạt để nghiên cứu làm đường bộ Sài Gòn – Đà Lạt. Từ 1903-1909, đường sắt Phan Rang – Xomgon (Xóm Gòn) được xây dựng hoàn thành, đoạn này dài 38km nằm hoàn toàn trên vùng đồng bằng. Ngoài ra, còn một số đoàn khảo sát khác có thể kể đến như đoàn quân sự của de Beylié, Pennequin, Bizar; các đoàn dân sự của Ducla (bên công chánh) và đoàn của bác sĩ Vassal (viện Pasteur). Tuy nhiên, Đà Lạt chỉ thực sự trở thành một đô thị từ năm 1922, khi người ta bắt đầu thực hiện đồ án quy hoạch của kiến trúc sư Ernest Hébrard. Đây là một nhà quy hoạch đô thị có tầm nhìn phóng khoáng và đã thiết kế cho Đà Lạt một thành phố 300 ngàn dân (có thể mở rộng thêm). Nhờ quy hoạch từ đầu khi dân cư vẫn còn thưa thớt nên việc xây dựng Đà Lạt được làm bài bản, không có các khu nhà chen chúc. Những căn biệt thự rộng rãi nằm giữa các khuôn viên đầy hoa cảnh, cây trái rải rác khắp nơi. Dẫu vậy, vẫn có một sự bất tiện với cư dân Đà lạt, đó là khoảng cách giữa các địa điểm trong thị tứ này. Nếu không có xe hơi thì nhất định phải có đôi chân thật khỏe mạnh. Những ngôi nhà nằm cách xa nhà ga hay trường Grand Lycée từ 3km đến 4km là chuyện phổ biến. Đi chợ hay đi xem phim đích thực là một chuyến đi dạo rất tốt cho sức khỏe. Và ý tưởng tuyệt vời nhất cho nơi này chính là tạo ra một cái hồ nhân tạo tuyệt đẹp ở khu vực trung tâm bằng cách xây đập trên suối Cam Ly. [Hồ Lớn, sau đổi tên thành Hồ Xuân Hương]. Nếu hỏi rằng quy hoạch của Hébrard có phải là phương án quy hoạch tối ưu nhất, thì câu trả lời chắc chắn là tối ưu nhất trên mọi phương diện. Nhưng tại sao lại làm những con đường dốc thẳng tắp lên xuống ở một nơi có nhiều sườn đồi như Đà Lạt? Khi làm những con đường như vậy, người ta cũng đã lường trước những bất tiện và nguy hiểm, cách làm này cũng đã bị bãi bỏ hoàn toàn ở Châu Âu từ mười lăm năm nay. Về phần những ngôi nhà, đúng hơn là những ngôi biệt thự, có thể nói rằng dù được tự do hoàn toàn, các kiến trúc sư đã không gây ra tình trạng lộn xộn, tai hại. Chắc chắn vẫn sẽ có những ngôi nhà không đẹp nhưng nhìn chung về tổng thể chúng ta vẫn thấy sự độc đáo, duyên dáng và hài hòa, tuân theo những quy tắc thẩm mỹ bắt buộc, những quy tắc đáng lẽ đã không ra đời nếu không có những nghệ sĩ tồi, tác giả của một số ngôi nhà. Dù dễ dãi đến mấy cũng không thể cho phép những thứ quá tệ, chẳng hạn như những mái nhà tôn lượn sóng, lại còn hoen gỉ, dù có phủ quanh đầy những cây hoa trông vẫn rất bôi bác không gian. Quả là một sự cưỡng bức đáng giá! Dọc theo các con phố, người ta cho trồng những hàng cây anh đào dại. Thực tình, chúng trông không được đẹp nhưng tới mùa ra hoa thì trông cũng vui mắt. Như tôi đã nói, Đà Lạt được mệnh danh là xứ sở của hoa và thông. Dân dã hơn, Đà Lạt còn là xứ sở của rau. Ta có thể ăn rau thỏa thích bằng nhiều cách như bằng mắt, bằng tai, bằng mũi và những giác quan này kích thích người ta ăn rau thỏa thích bằng miệng. Đà Lạt cũng có nhiều loài cây trái thơm ngon khác. Đà Lạt sản xuất ra bao nhiêu rau thì xuất đi bấy nhiêu, con số đáng nhớ là 1.200 tấn rau mỗi năm. Tiện đang nói về nông nghiệp, xin phép được kể thêm về những đồn điền chè tuyệt đẹp ở Entre Rays [Cầu Đất] với sản lượng 160 tấn/năm và những đồn điền cà phê ở Phimnon cho thu hoạch 50 tấn/năm. Lân cận quanh Đà Lạt còn có hai nông trại lâu đời và phát đạt. Cái đầu tiên là ở Dangkia, gần các thác nước ở Ankroet. Nông trại này hiện được quản lý và điều hành bởi một người nhập cư, cung cấp sữa, bơ và phô mát trắng theo yêu cầu của khách hàng. Ban đầu nơi đây là một trại thử nghiệm nông nghiệp của chính quyền, nhưng đã bị dẹp bỏ và bán rẻ lại cho tư nhân từ năm 1907. Nông trại có đàn gia súc khỏe mạnh, nhưng khả năng chăn nuôi của họ còn khá hạn chế. Cái còn lại gần trung tâm Đà Lạt hơn, trong khu vực Cam Ly. Trại này cũng sản xuất và cung cấp sữa, bơ, phô mai. Bà O’Neil là người đứng tên chủ sở hữu, Cha của bà – ông Ancel là người quản lý chính ở đây. Người đàn ông này đã gầy dựng lên ở đây một đồn điền cà phê nhỏ với vỏn vẹn chỉ khoảng 20.000 gốc cà phê Arabicas, nhưng chất lượng cà phê ở đây lại hơn hẳn những nơi khác, loại hạt cà phê thu hoạch được là loại nhất và không bị sâu bệnh. Khu vực trồng rau, chanh thơm, bạch đàn và những cây Nhai Bách [tuyas] xinh đẹp lộng lẫy được dành riêng cho khách tham quan. Bò Ayrshire thuần chủng của Úc là giống gia súc duy nhất được nuôi ở đây. Với sự đầu tư của bà O’Neil, trại Cam Ly trở thành một trang trại hình mẫu về cơ khí hóa trong tất cả các khâu từ xử lý, khử trùng, làm lạnh, đóng chai, cọ rửa,… Tất cả điện sản xuất được lấy từ một trạm thủy điện với hai tua bin, công suất 155 mã lực và công suất 260 mã lực. Các tuabin điện cung cấp điện chiếu sáng, điện động lực và bơm nước lên cao. Mỗi bơm nước có thể đưa nước lên độ cao 77m với lưu lượng 200lít/giây. Dù được bảo trì rất tốt, các thiết bị trên hiện đều không dùng được nữa. Nguyên nhân là do trước đó, bà O’Neil cho người xây dựng ở Cam Ly một chiếc đập nước cao 14m, đáy dài 54,65m. Năm 1932, hồ Lớn [Hồ Xuân Hương] không thể chịu nổi lưu lượng nước quá lớn đổ xuống trong một cơn bão khiến cho đập chắn hồ bị vỡ. Chỉ trong tích tắc, lượng nước khổng lồ từ hồ đổ ập vào thung lũng Cam Ly nhỏ bé, cuốn phăng nhà cửa và cây cối. Nước lũ cuồn cuộn kéo theo những cái cây lớn liên tục xô vào chiếc đập của trang trại Cam Ly, nuốt sạch cả bờ đập cao to. Toàn bộ trang trại chìm trong con nước dữ. Sau khi nước rút, nhà xưởng sản xuất bị phủ một lớp bùn dày đến hơn 2m, những cây gỗ lớn còn nguyên vẹn nằm ngổn ngang trên bùn đất nhưng những bức tường thì chẳng còn gì đáng kể. Chiếc đập, công trình quan trọng không thể thiếu cho công việc sản xuất của nông trại bị phá hủy hoàn toàn, không còn được xây dựng lại nữa. Về thể thao, người ta đã từng tính tới những môn thể thao mùa đông như đua thuyền, quần vợt, gôn chín lỗ,… Nhưng thực tình, tôi không thấy nhà thể thao nào ngoài các tay quần vợt. Mùa thể thao, nói một cách chính xác là thời gian thuận tiện cho các hoạt động thể thao bắt đầu từ tháng giêng. Hoạt động vệ sinh môi trường và chăm sóc sức khỏe ở đây khá đầy đủ. Một bệnh viện nằm ở vị trí đắc địa, thuận tiện cho việc khám chữa bệnh. Viện Pasteur với trang thiết bị khá tốt có thể sản xuất ra nhiều loại vắc xin trong điều kiện nhiệt độ thuận lợi. Nguồn nước của thành phố được khử trùng cẩn thận, còn đèn điện thì thắp sáng khắp cả. Thành phố có một chiếc còi hụ báo giờ vào mười một giờ trưa mỗi ngày. Có thể nói, tiện nghi ở đây không thiếu thứ gì, thậm chí còn có cả đèn trang trí. Trẻ em nơi đây cũng được quan tâm sâu sắc. Thời tiết vô cùng mát mẻ thuận tiện cho các hoạt động trí óc, trẻ em cả trai lẫn gái đều có thể theo học tới bậc tú tài. Đà Lạt có hai trường trung học cùng tên Lycée Yersin là trường Petit Lycée và Grand Lycée. Trường Petit Lycée được xây dựng vào năm 1927, trong khi trường Grand Lycée được xây dựng sau đó vào năm 1932. Trường Petit lyceé, sau này là trường tiểu học Yersin Hai trường được đặt ở hai đầu thành phố. Việc tách ra thành 2 trường riêng biệt như vậy nhằm tránh các em học sinh lớn (trường Grand Lycée) đánh các em nhỏ hơn (Petit Lycée), tuy nhiên có một điều khá lạ là hai cơ sở giáo dục chính thức của thành phố lại được đặt ở cách nhau rất xa. Trường Grand Lycée Trường Grand Lycée có tầm nhìn rất đẹp do được xây dựng trên một ngọn đồi cao và có thể được nhìn thấy từ xa. Trường hiện đang được mở rộng vì học sinh tăng lên đều đặn mỗi năm. Thật không may, việc mở rộng trường đang bị trì hoãn vì lý do chiến tranh, dù đây là nhu cầu vô cùng cấp thiết trong hoàn cảnh hiện nay. Các em học sinh thì không biết bao giờ mới có thể đến Pháp học và các bậc phụ huynh thì muốn con em mình được học hành ở nơi có điều kiện thời tiết tốt hơn Sài Gòn và Hà Nội. Khoảng cách xa giữa trường Petit Lycée và Grand Lycée không phải là sự bất tiện chỉ duy nhất có ở đây. Trường học ở các thành phố của Pháp và Bắc Phi cũng được bố trí tương tự như vậy. Các chuyến xe buýt đảm nhiệm việc đưa rước học sinh nội trú hàng ngày ở trường Petit Lycée luôn phải theo lịch của các lớp cao hơn ở trường Grand Lycée. Có lúc, người ta đã nghĩ tới việc xây thêm các tòa nhà ở Grand Lycée để làm chỗ ở nội trú cho các em học sinh, cả trai lẫn gái. Tuy nhiên, giải pháp này chắc chắn không thể thực hiện vì nhiều lý do và trong tương lai, hẳn sẽ có đầy đủ cả hai trường trung học riêng cho nam và nữ. Xin nói thêm về hoạt động giảng dạy ở Lycée Yersin, công việc này được trao cho các giáo viên uy tín và nhờ khí hậu tốt, việc đào tạo giáo dục thế hệ trẻ hoàn toàn thuận lợi. Ở nơi có khí hậu ôn hòa như Đà Lạt, các cơ sở giáo dục tự do ngoài công lập cũng khá thu hút. Trường Nazareth do các sơ của tu viện Saint Paul thành lập, nhận các em bé nhỏ tuổi và giảng dạy từ rất nhiều năm nay. Trường trung học Couvent des Oiseaux Tiếp đến là trường trung học Couvent des Oiseaux (cấp II) thành lập năm 1935, xây ở vị trí thuận tiện, cơ sở vật chất hiện đại và cảnh quan tuyệt vời. Trường hiện đang giảng dạy cho hơn 200 học sinh, trong đó 160 em ở nội trú. Không khí trong lành, phòng học rộng rãi sáng sủa, chương trình học tuyệt vời do chính các sơ của Tu viện Saint – Augustin thuộc Dòng Đức Bà (Congrégation de Notre Dame) biên soạn tới tận ban tú tài. Chúng tôi biết rằng, các quý bà sẽ cảm thấy không thể sống ở Đà Lạt được nếu thiếu thốn các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp. Thấu hiểu điều này, bà Ancel ở khu vực Cam Ly đã chế tạo ra son phấn và kem dưỡng da để trang điểm và làm trẻ hóa da mặt. Phải tận tai nghe bà nói về kỹ thuật chế biến, tận mắt thấy bà lắc và giới thiệu những chai, lọ trong phòng thí nghiệm của bà mới hiểu bà đã bị cuốn hút vào công việc này nhưng đã gặt hái được những thành quả nhất định. Thừa nhận một số loại mỹ phẩm của Pháp không thể chế tạo được ở đây, bà Ancel tận dụng triệt để nguồn nguyên liệu tại chỗ để chế biến. Không thể chưng cất (làm sao có lợi nhuận khi chưng cất, bởi giá một lít tinh dầu hoa Cam neroli tự nhiên có giá 25.000 francs, trong khi một lít tinh dầu neroli tổng hợp chỉ có 50 francs), bà bèn sử dụng cách thức ngâm tẩm hoa truyền thống từ thời Grasse. Bằng cách ngâm các loại hoa, quả, cây lá với nhau (như dưa gang tây, chuối, dâu tây, lê, lá hương bài, hoa kim hoa, huệ tây củ,…) và xử lý vài gợn váng trong, bà thu được nhiều loại cồn thơm khác nhau. Và các quý bà xin hãy lưu ý rằng, bột phấn trang điểm của bà Ancel được chế tạo từ bột gạo, bột hạnh nhân mịn và hàn the, hoàn toàn không có cacbonat canxi với những tinh thể vô cùng nhỏ nhưng rắn chắc có thể làm xước da. Và son của bà Ancel thì hoàn toàn không có chứa Eosin độc hại. Chúng tôi có lẽ cũng cần lưu ý thêm rằng có rất nhiều sách ở Hiệp Hội Sáng Kiến, có thể thuê những con ngựa chỉ to bằng con dê nhưng lành tính với giá một xu để đi dạo, một vài đoạn suối Cam Ly với kha khá những loài cá nhỏ có thể là địa điểm yêu thích của những người câu cá nghiệp dư. Ngoài ra, còn có nhiều trò giải trí khác cho thị dân như xem chiếu bóng, chơi bài, tán gẫu,.. Tất cả những điều trên đây được cho phép ở Đà Lạt. Trên tất cả, Đà Lạt là một trung tâm dã ngoại lý tưởng. Cảnh quan khắp cao nguyên đều tuyệt đẹp với những con đường xe hơi và đường mòn trải rộng khắp nơi. Quanh Đà Lạt có thể tìm thấy nhiều điểm cao để ngắm cảnh như đỉnh Robinson, đỉnh Ba Cây Thông (les trois pins) và nhiều điểm du ngoạn đẹp như lac des soupirs [sau có tên tiếng Việt là Hồ Than Thở], la bois d’amour [rừng Ái Ân],… Hồ Than Thờ Rừng Ái Ân năm 1953. Đây là một rừng thông nằm gần Dinh III (Dinh Bảo Đại), phía đường Triệu Việt Vương, một khu rừng thơ mộng nhất của Đà Lạt khi xưa với cái tên mang đậm tính chất trữ tình: Rừng Ái Ân (Bois d’Amour). Bây giờ khu rừng này đã không còn nữa Các con thác ở Cam Ly nằm gần Đà Lạt, xa hơn là các thác ở Ankroet nhưng cũng chỉ cách vài kilomet. Tuy nhiên, đó chỉ là những con thác nhỏ, thực chất là những ghềnh nước. Nếu đi xe hơi riêng, trên đường về Sài Gòn, có thể ghé thăm các con thác lớn ở Liên – Khang [Liên Khương], dừng chân ở thác Gougah xinh đẹp hoặc tham quan hệ thống các thác nước hùng vĩ ở Pongour giữa khung cảnh núi rừng nguyên sơ và thơ mộng. Hẳn sẽ có người hỏi vặn tôi: Vậy những trận mưa tệ hại thì sao? Đúng vậy, ở Đà Lạt thường có mưa nhiều, trừ khoảng thời gian từ tháng một tới tháng ba, nhưng nhìn chung không quá nhiều như lời đồn thổi. Ở đây, mỗi năm chỉ có 150 ngày mưa, tương tự như tần suất mưa ở Paris, chắc chắn là ít hơn ở Brest hay Bordeaux. Lượng mưa trung bình hàng năm của Đà Lạt là 1.692mm là một điều hết sức bình thường ở xứ nhiệt đới, vẫn còn ít hơn lượng mưa của khu nghỉ mát trên cao nổi tiếng Simla (1.780mm) ở Ấn Độ. Đà Lạt chiếm giữ một vị trí địa lý tuyệt đẹp, khí hậu trong lành và ôn hòa, lưu thông thuận tiện với hệ thống đường sắt và đường bộ. Liệu Đà Lạt có thể trở thành một trung tâm hành chính hay không? Điều này chỉ có Chúa mới biết! Nhưng nếu điều đó trở thành sự thật thì quả là tai hại. Tương tự như câu chuyện đã xảy ra với Hà Nội. Hà Nội đã mất rất nhiều và Đà Lạt cũng không ngoại lệ, sẽ chật ních người, sẽ ngổn ngang công trường xây dựng và tấp nập xe hơi. Đà Lạt sẽ mang dáng dấp của những thành phố khác, sẽ mất đi thế mạnh độc đáo, mất đi chức năng ban đầu của mình là một thành phố nghỉ dưỡng. Khi bác sĩ Yersin tìm ra Đà Lạt vào cuối thế kỷ XIX, khi những đoàn khảo sát tiên phong đến Đà Lạt xây dựng những ngôi nhà gỗ đầu tiên, tất cả đều cùng chung một ý tưởng chính xác và hợp lý là chọn một nơi tốt nhất để xây dựng khu điều dưỡng. Nhưng ngày nay khi mọi thứ đang diễn tiến xa dần với mục tiêu ban đầu, tôi chợt nghĩ, hẳn là người ta đã bị lạc đường. Tác giả: P. Munier, tuần san Indochine số 28 ra ngày 13/3/1941 Dịch: Đông Kha Share 0 Xem bài khác XƯA Phong cảnh Đà Lạt xưa tuyệt đẹp qua bộ sưu tập ảnh nghệ thuật Mời các các bạn xem lại bộ sưu tập ảnh nghệ thuật tuyệt đẹp của Đà Lạt xưa của nhiếp... APRIL 9, 2024 XƯA Cảnh quan của “vùng bất kiến tạo” ở Đà Lạt nghĩa là gì? Gần đây, trên báo chí, bạn đọc có thể đã đọc được thông tin liên quan tới "không gian bất... APRIL 9, 2024 XƯA Hình ảnh hiếm Đà Lạt thời thập niên 1990 Mời các bạn xem lại bộ sưu tập hình ảnh chụp Đà Lạt vào những năm đầu thập niên 1990,... APRIL 8, 2024 XƯA Hình ảnh tuyệt đẹp của người Sài Gòn xưa trên đường phố trước 1975 Mời các bạn xem lại những hình ảnh người Sài Gòn xưa các nẻo đường thân thuộc trước 1975. Nhìn... APRIL 7, 2024 XƯA Nguồn gốc tên gọi Đà Lạt (Đạ Lạc) – Xuất phát từ tên gọi của một bộ tộc người bản xứ Địa danh Đà Lạt được bắt nguồn từ chữ Đạ Lạch (hoặc Đạ Lạc, Đạ Lạt). Thực ra, Lạch, Lạc,... APRIL 6, 2024 XƯA Lịch sử hình thành và bộ ảnh xưa tuyệt đẹp của khu Hòa Bình ở trung tâm Đà Lạt Nếu nói về vị trí trung tâm của toàn thành phố Đà Lạt hiện nay, người ta sẽ nghĩ tới... APRIL 5, 2024 Liên hệ Ban Biên Tập bbt@nhacxua.vn Trang Chủ Nhạc Xưa Cảm xúc âm nhạc Xuất xứ bài hát © 2020 NhacXua.VN - Nhạc Xưa Thời Báo.
Bạn đang sao chép nội dung của nhacxua.vn. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn nhacxua.vn kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense. KHÔNG được đọc lại bài viết để tạo video trên YouTube
No comments:
Post a Comment